Up

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Giáo-Sư Nguyễn Văn Canh

 

Ngày 25 tháng 12 năm 2000, Việt cộng và Trung cộng đă kư 2 Hiệp định cho đến nay chưa được phê chuẩn.

Trên một bài viết đăng trong tạp chí Cộng sản vào tháng 2 năm 2001, với nhan đề Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp tác Nghề Cá giữa Việt nam- Trung quốc trong Vịnh Bắc Bộ. Lê công Phụng, thứ trưởng ngoại giao nói về Hiệp định phân định ranh giới như sau: Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích trong Vịnh. Trung quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung quốc 6,46% tức là khoảng 8,205 km2). Về Hiệp định Hợp tác Nghề Cá, Phụng viết hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20 xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30.5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phiá, và có tổng diện tích là 33,500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích. Thời hạn là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn). Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thoả thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở Bắc vĩ tuyến 20 cho tàu thuyền của hai bên đánh bắt.

Nếu ta so đường ranh MÀU ĐỎ hay là đường Constans do Công ước 1887 giữa Pháp và Nhà Thanh thiết lập trước đây để phân chia vùng vịnh, th́ Việt cộng đă nhượng cho Trung cộng khoảng hơn 9% diện tích của vịnh hay tương đương với khoảng 11,000 km2.

Ngoài ra, với Hiệp định Hợp tác Nghề Cá, Việt cộng đă chấp thuận cho Trung cộng vào sâu trong lănh hải của Việt nam để đánh cá. Sở dĩ hai bên chưa phê chuẩn hai hiệp ước này là v́ c̣n thương thuyết về số lượng, cỡ tầu đánh cá vào hoạt động trong vùng đánh cá chung. Người ta được biết rằng, các công ty đánh cá quốc doanh của Trung cộng có những đoàn ngư-thuyền lớn, trang bị lưới dài tới 60 dậm. Các tàu ấy nếu được vào sâu hoạt động sát bờ biển Việt nam 30 hải lư như qui định trong hiệp định, th́ tài nguyên của quốc dân sẽ bị khô cạn trong một thời-gian ngắn.

Trong tháng hai vưà qua, khi Giang trạch Dân sang viếng thăm Việt Nam, dù không có tiết lộ công khai về áp lực phải gấp rút phê chuẩn, nhưng Vũ Khoan, Bộ trưởng Thương Mại Việt cộng có tuyên bố rằng đă có tiến bộ về thương lượng hiệp định ấy.

Đảng cộng sản Việt nam lén lút hiến dâng một phần lănh thổ trên đất liền cho Đảng cộng sản Trung hoa. Để thực thi hiệp định trên đất liền, vào 27 tháng 12 năm 2001, hai bên đă làm lễ cắm mốc để thiết lập đường ranh biên giới mới tại Móng cái và Đông hưng. Qua công tác này, dân chúng mới được biết Việt cộng đă hiến dâng một số địa điểm cho Trung cộng. Thí dụ những nơi có tính cách lịch sử gắn liến với đời sống dân tộc tượng trưng cho công cuộc bảo vệ một cách kiêu hùng sự vẹn toàn lănh thổ như Ai Nam Quan; thắng cảnh danh tiếng như Thác Bản Giốc đă trở thành tài sản của ngoại bang. Và người ta chỉ được biết một cách không chính xác vị trí khoảng 164 điạ điểm chiến lược trọng yếu nằm dọc theo biên giới Quảng ninh, Lạng sơn, Cao bằng, Hà giang, Lào cai có địa thế hiểm trở đă giúp cho dân tộc Việt đánh bại quân xâm lăng Bắc phương trong các thế kỷ trước nay đă được Đảng Cộng sản Việt nam chính thức chuyển nhượng cho kẻ thù của dân tộc.

Nay với hai hiệp định này, diện tích vịnh Bắc Việt của Việt nam lại bị thu hẹp gần một phần mười trong tổng số diện tích và cả tài nguyên trong vịnh cũng được nhượng cho ngoại bang vào khai thác.

Dù Việt cộng giữ bí mật các hiệp ước đó, việc hiến dâng lănh thổ trên đất liền và trong vùng Vịnh cho Trung cộng đă trở thành hiển nhiên, không thể chối căi được. Để cho mọi người hiểu rơ hơn vùng Vịnh Bắc Việt, nguyên Hạm-Trưởng Hải-Quân VNCH Vũ Hữu San, một học giả khả-kính thuộc Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ Việt Nam đă dành nhiu công sưu-tầm, nghiên-cứu về địa-lư để chứng-minh chủ-quyền của Việt-Nam trên vùng biển Vịnh Bắc-Việt. Công-tŕnh nghiên-cứu ấy đă hoàn-tất và được ấn-hành dưới nhan-đề VỊNH BẮC-VIỆT - ĐỊA-LƯ và CHỦ-QUYỀN HẢI-PHẬN

            Đây là một công-tŕnh nghiên-cứu hết sức công-phu với nhiều khám-phá mới. Ông Vũ hu San đă cho độc-giả thy rng Ông có kiến-thức uyên-thâm, thông-hiểu về hải-dương-học, địa-chất-học, sinh-vật-học, thảo-mộc-học, văn-minh-học, nối kết các dữ-kiện hiện có để chứng-minh Vịnh Bắc-Việt thực sự là nơi khai-nguyên của dân-tộc. Với quan-niệm mới mẻ, tác-giả đưa người đọc đi về t́m hiểu nguồn gốc dân-tộc, từ những ngày theo Mẹ lên Núi (Tây-tiến), theo Cha xuống Biển (Đông-tiến), rồi hợp-đoàn trong nỗ-lực Nam-Tiến. Ngụ ư rằng công-tŕnh Đông-Tiến vẫn c̣n đang tiếp-tục, Ông kêu gọi mọi người Việt-Nam theo bước tiền-nhân, khai-thác và bảo-vệ Biển Đông, trong đó có vùng tối trọng-yếu là Vịnh Bắc-Việt.

            Riêng về vấn- đề hải-phận Vịnh Bắc-Việt, tác-giả đă:

-          phân-tích rành mạch tính-cách bất b́nh-đẳng của hiệp-ước vừa kư-kết,

-          đả phá tính-chất thiếu công bằng, vô-lư trong quan-hệ giữa Việt - Hoa hiện nay,

-          mong tạo dư-luận rộng răi dứt-khoát không chấp-nhận Hiệp-định Phân-định Vịnh Bắc Bộ và cả Hiệp định Hợp tác Nghề Cá, v́ nó ảnh-hưởng trực-tiếp đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của đất nước.

Trong một chương quan-trọng của cuốn sách, tác-giả đ-nghị những biện-pháp khả-thi cho cả hai nước. Ông cũng ước-lượng một số đường ranh giới hải-phận một cách công-bằng thể theo Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc và công-pháp quốc-tế hiện-hành.

Tài-liệu tham-chiếu và viện dẫn rất là phong-phú. Học giả Vũ-Hữu-San đă sưu-tầm được rất nhiều tài-liệu do những tác-giả có uy-tín viết về vấn-đề này. Cuốn VỊNH BẮC-VIỆT - ĐỊA-LƯ và CHỦ-QUYỀN HẢI-PHẬN có tới cả trăm bản-đồ và h́nh-ảnh giúp cho người đọc nh́n thấy ngay được vấn-đề.

            Cuốn Vịnh Bắc Việt- Địa lư và Chủ Quyền Hải Phận cũng có một giá trị rất cao, như cuốn Điạ lư Biển Đông với Trường Sa và Hoàng Sa của tác giả mà Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ Việt Nam đă bảo trợ cách đây đúng 7 năm, vào ngày 30 tháng 4 năm 1995.

Với một phương pháp làm việc nghiêm túc theo tiêu chuẩn cao độ, tương đương với qui luật của các Viện Nghiên Cứu hàng đầu tại xứ này, học giả Vũ Hữu San đă thành công trong công tác mà ông đảm nhiệm.

Chúng tôi mong ước rằng người tị nạn ḿnh sẽ tiếp tay phổ biến cuốn sách có giá trị này đến nhiều nơi như Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toành Lănh Thổ trước đă làm đối với cuốn Địa Lư Biển Đông với Trường Sa và Hoàng Sa.

 

Ngày 30 tháng 4 năm 2002

Đại diện Ủy Ban Bảo Vệ Lănh Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ Việt Nam

Nguyễn Văn Canh

 

 

 

 

Chương 1

Vịnh Bắc-Việt, Mở Đề

Một Danh-Từ - Nhiều Huyền-Thoại

 

1.1 -Vịnh Bắc-Việt Tổng-quát và Một Danh-từ

Trong cuốn sách “Vịnh Bắc-Việt” này, chúng tôi luận-bàn về địa-lư vùng biển nằm ở phía Đông của phần đất cực Bắc nước-Việt: Vịnh Bắc-Việt.

Phần đất Bắc-Việt-Nam (hay nói tắt là Bắc-Việt) dưới thời Pháp-thuộc được gọi là Bắc-Kỳ, sau đổi thành Bắc-Bộ dưới thời Chính-phủ Trần-Trọng-Kim và sau đổi ra Bắc-phần[1]. Trong những giai-đoạn nội-chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn; đất Bắc thường được gọi là Đàng Ngoài hay Bắc-Hà. Vịnh biển cạnh đó mang những tên như Vịnh Bắc-Kỳ, Vịnh Bắc-Phần, Vịnh Bắc-Bộ hay Biển Bắc, Biển Đàng Ngoài hay Vịnh Bắc-Hà. Bản-đồ Hồng-Đức (thế kỷ XV), ghi tên Vịnh là Đại-Hải, phù-hợp với tên nôm-na mà dân-chúng thường dùng là Bể Lớn hay Bể Đông.

Chúng tôi chọn danh-từ “Vịnh Bắc-Việt” khi đề-cập tới vùng biển lớn hơn Vịnh của Bắc-phần hay Bắc-bộ. Đó là khu-vực biển cả nằm cạnh vùng đất phía Bắc của Việt-Nam[2], từ biên-giới Việt-Hoa tại Mũi Trà-Cổ, Móng-Cái tới Đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng-Trị, Trung-phần Việt-nam.

Trên những bản-đồ hay hải-đồ quốc-tế, người ta đọc thấy những danh-từ chỉ Vịnh Bắc-Việt như sau: Grand Golfe, Golfe du Tonquin [Tonqeen], Golphe de Tunquin, Baye de Tonquin, Golfe de Cochinchine, Gulf of Tonkin [Tonking], Tonkin Gulf…Trên các bản-đồ vẽ theo tài-liệu Ptolemy, Vịnh Bắc-Việt được ghi là Signus Magnus, Cinus Magnus (Vịnh Lớn – Grand Golfe). C̣n người Trung-Hoa gọi những tên như Chướng-Hải, Giao-Chỉ-Dương, Vịnh Bắc-Bộ (Beibu-Wan).

Nói tổng quát, Vịnh Bắc-Việt được bao bọc bởi Việt-Nam và Trung Hoa có diện-tích 126,250 km2 [3]. Chiều ngang nơi rộng nhất (từ Diễn-Châu, Nghệ-An đến Đông-Phương, Hải-Nam) khoảng 320 km (176 hải-lư) và chỗ hẹp nhất nơi cửa Vịnh (từ Đảo Cồn Cỏ đến Mũi Oanh-Ca) khoảng 220 km (119 hải-lư).

 

H́nh 1. Tấm Bản-đồ đầu tiên[4] của nước ta có ghi Bể Lớn[5] tức Vịnh Bắc-Việt (trong tập Hồng-Đức Bản-Đồ -1490).Lưu-ư Ải Nam-Quan (phía Bắc) và Đại-Hải (phía Đông-Nam)

 

Phần Vịnh phía Việt-Nam có khoảng 1,300 ḥn đảo[6] ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch-Long-Vĩ nằm cách đất liền Việt-Nam khoảng 110 km (59.4 hải-lư), cách đảo Hải-Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km (70,2 hải-lư).

 

 

H́nh 2. Vịnh Bắc-Việt giáp-giới với 3 tỉnh Trung-Hoa

 

Nếu lấy Vịnh Bắc-Việt làm trung-tâm nh́n ra thế-giới:

-Trong ṿng bán-kính 1500 hải-lư, ta thấy các thành-phố, hải-cảng quan-trọng như Bangkok, Rangoon, Calcutta, Singapore, Djakarta, Manila, Taipei, Hongkong, Shanghai, Nagasaki.

-Trong ṿng bán-kính 2500 hải-lư, ta thấy các thành-phố, hải-cảng Madras, Colombo, Bombay, Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul, Beijing... 

Mang nhan-đề là “Vịnh Bắc-Việt, Địa-Lư & Chủ-Quyền Hải-Phận “, cuốn sách này rơ rệt muốn bàn nhiều vấn-đề hơn là chỉ mô-tả địa-lư thuần-túy. Như khi viết cuốn sách “Địa-Lư Biển Đông” (năm 1995), lần này chúng tôi cũng sẽ đi ra ngoài khuôn-khổ giáo-khoa để lạm-bàn thêm các diễn-biến cận-đại. Lại nhằm lúc không-khí sôi-động v́ đồng-bào ta, trong cũng như ngoài nước, phẫn-nộ đứng lên tố-cáo Hà-Nội dâng đất dâng biển cho Trung-Cộng, chúng tôi xin ghi thêm một vài lư-lẽ về việc tranh-căi chủ-quyền trên biển. Trong khả-năng riêng, chúng tôi ước-lượng và đề-nghị một số đường ranh-giới hải-phận thể theo luật-pháp quốc-tế hiện-hành.

 

H́nh 3. Vịnh Bắc-Việt – H́nh-thể tổng-quát

 

1.2 - Miền Bắc Khai-Nguyên

Trong giai-đoạn khai-nguyên dân-tộc, từ thời Văn-Lang qua đến thời Đại-Việt, biển nước ta c̣n hẹp, gần như xấp-xỉ trùng hợp với vùng biển “Vịnh Bắc-Việt” này [7].

Qua cuốn sách “Miền Bắc Khai-Nguyên”, các Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh đă mô-tả đầy đủ về đất-đai và một phần sơ-sài hơn về biển của Miền Bắc-Việt-Nam. Hai Ông-thường hợp-biên và là tác-giả những tập “Việt-Nam Chí-Lược” hồi các thập-niên 1960-1970[8]. Phần sơ-lược về Địa-lư Miền Bắc được giới-thiệu như sau: “Ở nơi trung-tâm khai-nguyên này của dân-tộc, tổ-tiên chúng ta đă phải luôn đấu-tranh để giữ cho giống ṇi được tồn-tại, đất nước được vững bền, văn-hóa được mở mang… Đất nước chúng ta từ ngày lập-quốc chỉ vỏn vẹn gồm có Bắc-Việt và Miền Bắc Trung-Việt.” Về mục-đích viết và đọc sách địa-lư, các Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh viết rằng: “Biết xứ-sở để yêu xứ-sở, để hănh-diện v́ xứ-sở, nhất là v́ những công-tŕnh của Tổ-tiên đă xây-đắp nên xứ-sở”.

 

1.3 - Văn-hóa Nước từ Sinh-hoạt Biển đi vào

Nói một cách chung khi tŕnh-bày thêm những yếu-tố địa-lư về Vịnh Bắc-Việt, chúng tôi tiếp-tục đi theo sau các Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh cùng một số tác-giả khác đă viết về địa-lư Việt-Nam. Tuy vậy trong khía-cạnh riêng-biệt của chí-lược, chúng tôi có ư nghiêng việc nghiên-cứu về một quan-niệm địa-lư mới hơn. Lúc viết rằng “Miền Bắc Khai-Nguyên”, chúng tôi tự đặt câu hỏi “có ǵ đi trước sự khai-nguyên đó không?”.

Khi nghiên-cứu truyền-thuyết người ta có thể hiểu được tiến-tŕnh h́nh-thành của một dân-tộc. Đó là ư-kiến của Keith Weller Taylor khi viết cuốn sách "The Birth of Vietnam". Trong chương đầu tiên (1- Lac Lords), Taylor bàn ngay đến những cách nh́n của ông về truyền-thống hàng-hải Việt-Nam qua những truyện thần-thoại đầu tiên của dân-tộc chúng ta. Theo đó những vua Hùng truyền đi từ Kinh-Dương-Vương, Lạc-Long-Quân. Ông vua Rồng Lạc-Long này quê từ ngoài biển cả đi vào, giúp dân trừ yêu-quái trên đất liền, dạy dân cách trồng lúa để ăn, may quần áo để mặc.[9]

Nhân lúc nghiên-cứu về sinh-hoạt biển-cả Việt-Nam, có thể chúng tôi đă t́m ra câu trả lời. Đó là ảnh-hưởng của một nền “Văn-hóa Nước” đến từ Vịnh Bắc-Việt sau Thời-đại Băng Đá, trước khi dân ta quy-tụ lập-nghiệp tại vùng châu-thổ Sông Hồng. Giả-thuyết này đă được chúng tôi giới-thiệu trong cuốn “Địa-Lư Biển Đông với Hoàng-Sa và Trường-Sa, nay được tŕnh-bày thêm qua số chứng-liệu mới..

 

1.4 - Vịnh Bắc-Việt, Bể Đông, Biển Tây và các Tên Gọi

Truy-nguyên nguồn-gốc, chúng ta thấy rằng danh-từ “Vịnh Bắc-Việt” c̣n tương-đối rất mới. Bể Đông hay Biển Đông là chính-danh lâu đời tên gọi vùng biển nước ta. Tên gọi “Biển Đông” rất có thể đă được Tổ-tiên chúng ta là cư-dân bản-địa sử-dụng từ hàng chục ngh́n năm xưa, hiển-nhiên trước cả khi lập-quốc. 

Người Việt chúng ta chỉ mới khởi-sự nghĩ đến sự cần-thiết phải xác-định danh-từ “Vịnh Bắc-Việt” khi bắt đầu cuộc Nam-tiến, xuôi theo đồng-bằng Nam-Ngăi-B́nh-Phú vào Nam. Rồi cuối cùng, lúc ngừng chân tại vùng đất màu mỡ Cửu-Long-Giang, cư-dân mới người Việt gọi Vịnh Phú-Quốc là Biển Tây v́ vùng biển này nằm về phía Tây của họ. Tên Biển Tây mang tính-cách địa-phương, không có ư-nghĩa nhiều về địa-lư.

Nói một cách tổng-quát, tên biển Việt-Nam như sau:

- Tên Vịnh Bắc-Việt để chỉ vùng biển đoạn Móng-Cái - Đảo Cồn Cỏ.

- Tên Biển Tây hay Vịnh Phú-Quốc (đoạn Cà Mau - Hà-Tiên - Phú-Quốc - Thổ-Chu) xuất-hiện từ thế-kỷ 18.

- Bể Đông hay Biển Đông là tên Biển bản-địa lâu đời của dân ta.

Ngày nay, Biển Đông được hiểu là biển lớn bao gồm cả Vịnh Bắc-Việt và Vịnh Phú–Quốc. Hơn thế nữa, Biển Đông là vùng biển của Đông-Nam-Á, bao quanh bởi các nước-Việt-Nam, Kampuchea, Thái-Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines, Taiwan và Trung-Hoa.[10] Trên bản-đồ toàn-cầu, người ta thường dùng "Biển Nam Trung Hoa", nhưng mọi người đều biết rằng tên đó lúc đầu đă được các nhà hàng-hải thời-kỳ cổ đại đặt ra là để chỉ vị-trí, hoàn toàn không phải là để chỉ chủ quyền[11].

 

1.5 - Hành-tŕnh Dân-Tộc trước khi Nam-Tiến

Từ “Miền Bắc Khai-Nguyên”, dân ta bắt đầu Nam-Tiến khoảng một ngàn năm qua. Đă có nhiều tài-liệu viết về công-tŕnh này và sử sách cũng ghi chép đầy đủ. V́ e-ngại đồng-bào đă vô-t́nh quên-lăng hai công–tŕnh khác tiến-hành trước đó rất lâu, chúng tôi muốn tŕnh-bày những giả-thuyết và đề-nghị ghi thêm hai danh-từ mới là Tây-Tiến và Đông-Tiến vào cho được đầy đủ.

Từ xa xưa, người Việt đă cư-trú trên các đảo ven bờ và dần dần mở rộng các hoạt-động kinh-tế trên các quần-đảo ở xa trên biển Đông. Ngay trong truyền-thuyết Lạc-Long-Quân và bà Âu Cơ về nguồn gốc dân-tộc-Việt-Nam, cũng đă thấy nói rằng 50 người con theo cha (Lạc-Long-Quân) xuống biển và 50 người con theo mẹ (Âu Cơ) lên núi. Những người con này của hai ông bà về sau đă sinh thêm con đàn cháu đống và đă hợp sức khai-phá toàn lănh-thổ Việt-Nam.[12]

Mặc dù đấy chỉ là truyền-thuyết nhưng nó có một ư nghĩa nhất-định: những người Việt cổ ngay từ đầu đă làm ăn sinh sống ở ngoài biển, trên những đảo và quần-đảo tiếp cận. Hơn thế nữa lúc khởi-nguyên, rất có thể Tổ-tiên ta đă từ ngoài Vịnh biển Bắc-Việt di-cư vào. Huyền-thoại Lạc-Long-Quân chính là biểu-tượng truyền-kỳ của cuộc Tây-Tiến, cuộc hành-tŕnh đầu-tiên của Dân-tộc.

H́nh 4. Bản-đồ Nam-tiến

 

1.6 - Tây-tiến và Đông-Tiến

Các tài-liệu khảo cổ của Madeleine Colani chứng minh rằng con người đă định-cư trên các đảo ven bờ Vịnh Bắc-Việt, trong khu-vực hai quần-đảo Hạ-Long và Bái-Tử-Long từ 10,000 năm nay. Bà Madeleine Colani xếp sinh-hoạt lúc ấy vào nền Văn-minh Bắc-Sơn. Theo giáo-sư Lê-Bá-Thảo, thời đó là giai-đoạn cuối của nền văn-hóa Ḥa B́nh, sinh-hoạt cư-dân c̣n được thể-hiện trong các di chỉ Soi Nhụ (cách đây khoảng trên 10 vạn năm) và nền văn-hóa Cái Bèo (khoảng 6 ngh́n năm trước). Đến nền văn-hóa Hạ-Long (khoảng 4000-5000 năm trước) th́ con người đă sinh cơ lập nghiệp trên đới ven biển, bao gồm cả các đảo và dải đất duyên-hải.

Nói chung, khi đi sâu từ phía biển cả vào phía núi rừng, người ta thấy chứng-tích sinh-hoạt loài người tại vùng núi ven biển sớm sủa hơn những vùng cao-nguyên nằm sâu trong nội-địa.

Các Khoa-học-gia cho biết sau thời-đại Băng-đá có một thời-kỳ biển tiến. Tất cả những vùng đồng-bằng bao-la Sunda (phía Nam Biển Đông), đồng-bằng Nanhai (trên nền Vịnh Bắc-Việt) bị ch́m ngập dưới đại-dương. Nước biển tràn vào tới Việt-Tŕ. Con người thuộc nhiều sắc-tộc khác nhau phải cùng nhau dồn lên cư-trú dọc theo chân núi. Họ sống chủ-yếu bằng săn-bắt và hái lượm, trồng rau đậu với công-cụ đá thô sơ. Những điểm cư-trú của tiền-nhân được phân-bố khá gần nhau: dọc theo khu Thanh-Hóa, Ninh-B́nh, Ḥa-B́nh, ở phía Tây-Nam; vùng Bắc-Ninh, Đông-Triều, Bắc-Sơn, Hạ-Long phía Đông-Bắc… Cuộc hành-tŕnh Tây-Tiến đă kết-hợp dân-tộc. Văn-minh Ḥa-B́nh bắt đầu tỏa sáng.

Thời-gian tồn-tại của họ cách nay khoảng trên mười ngh́n năm...Rồi nước biển rút dần; vào thời-điểm cách nay khoảng bảy ngh́n năm, con người rời núi non, tràn xuống chiếm-lĩnh đồng-bằng châu-thổ. Đây là cuộc hành-tŕnh Đông-Tiến, tiền-nhân bành-trướng khu-vực sinh-hoạt ra khắp duyên-hải Vịnh Bắc-Việt.

Môi trường sống đă dễ chịu hơn trước; thức ăn khá dồi dào, ngoài dă thú và rau đậu, c̣n có cá tôm, nhất là ṣ hến nhiều không kể xiết. Công-cụ đá đựợc hoàn thiện một bước, đồ gốm làm bằng tay bên cạnh đồ gốm làm bằng bàn xoay.

Chester Norman cũng cho ta một sự mô-tả tương-tự về Tây-tiến và Đông-tiến như sau:

Norman cho rằng nền Văn-minh Ḥa-B́nh được tạo-dựng trong thời-gian thềm lục-địa Sunda (và Nanhai) bị ngập nước. Khi đó vịnh Bắc-phần và vịnh Thái-Lan mà lúc trước là hai vùng đồng-bằng trũng, nay cũng thành-h́nh.

Từ nhiều ngàn năm trước, người dân thuộc nền văn-hóa Hoà-B́nh ở miền Tây Biển Đông chỉ sống bằng cách săn-bắn, hái-lượm và trồng trọt ruộng khô trong những vùng thung-lũng. Bỗng nhiên mật-độ dân-cư tăng lên nhanh, con người phải có phương-pháp mới để sản-xuất thêm thực-phẩm. Loài trâu, loài heo được gia-súc-hóa.

 

H́nh 5. Bản-đồ ghi-nhận những đường di-dân “Tây-tiến” từ Nanhailand ngoài Biển Đông vào đất liền trong thời Hậu Băng-Đá[13] 1-Dân di-cư đông-đảo nhất theo Hồng-Hà. 2-Theo sông Mekong. 3-Theo sông Chao Phraya. 4-Theo các ḍng sông cổ xưa từ vùng biển Bali Sea. 5-Theo Tây-giang. 6-Theo Dương-Tử

 

Người ta di-chuyển từ thung-lũng xuống khai-phá đồng-bằng. Yếu-tố quan-trọng nhất của đà phát-triển là sự ra đời của các giống cây cho hạt. Những loại ngũ-cốc thuần-hóa sau này thích-hợp cho ruộng nước. Khoảng 5,500 năm trước, cây lúa đă được trồng trọt.[14] 

 

 

H́nh 6. Việt-Nam nằm trong vùng phân-bố cây lúa dại. Lưu-ư địa-bàn Trung-Hoa thời cổ không có loại cây này

 

Truyền-thuyết “Âu-Cơ - Lạc-Long-Quân với 50 con đi lên miền núi đồi, 50 con xuống miền sông biển” đă xác-nhận các công-tŕnh Tây-tiến của tiền-nhân Việt-tộc từ Vịnh Bắc-Việt đi vào đất liền và Đông-tiến từ núi đồi, kéo nhau xuống khai-thác những vùng đất tân-bồi phía Đông. Truyền-thuyết cũng nhằm giải-thích sự có mặt của các bộ lạc khác nhau trước đây từ khắp các nơi thuộc đồng-bằng Biển Đông, nay cùng tạo-dựng nên cội nguồn thống-nhất, cao-quư của dân-tộc Việt-Nam.

 

 

H́nh 7. Các địa-điểm khai-quật thời Thạch-khí thường dọc theo chân núi. Vùng châu-thổ không có di-chỉ nào cổ.

 

 

1.6 - Khai-sinh của Biển Đông

Vịnh Bắc-Việt “tương-đối” c̣n trẻ và đă thay h́nh đổi dạng liên-tục trong quá-khứ.

So-sánh với niên-đại của lục-địa Việt-Nam (thường gọi là Indosinias hay Indosinia), và cả Biển mẹ của nó là Biển Đông, Vịnh Bắc-Việt có một số tuổi rất là khiêm-nhường.

Khi nói về sự bền vững của nền lục-địa xứ ta, Giáo-sư Phạm-Hoàng-Hộ đă viết rằng "Việt-Nam nằm trên khối Indosinias của vỏ Trái đất bền vững từ mấy trăm triệu năm nay[15]. Theo tiêu-chuẩn “bền vững” đó, Biển Đông và nhất là Vịnh Bắc-Việt - nay hiện ra mai mất đi - đều không thể nào mang ra so-sánh được.

Theo các nhà địa-chất, lúc xưa trái đất[16] chỉ lớn bằng 4/5 thể-tích ngày nay. Các lục-địa dính chùm vào với nhau thành khối đại lục-địa Pangea. Cách nay 340 triệu năm, ở khu-vực phía Đông gần xích-đạo (sau này thành vùng Đông-Nam-Á) xuất-hiện một cái hồ chứa nước h́nh tam-giác đều mỗi cạnh chừng vài trăm cây số.

Vào khoảng 240 triệu năm trước, khi Pangea bắt đầu bành-trướng, các lục-địa tách rời nhau và trái đất lớn dần. Kích-thước “hồ nước” tam-giác đủ lớn và đủ sâu để làm cho lớp vỏ trái đất dưới đáy của nó mỏng dần và giăn nở theo với đà bành-trướng của các lục-địa. Do nhiều yếu-tố ngẫu-nhiên phù-hợp làm thay đổi cấu-trúc của lớp vỏ trái đất chỗ đó thành vỏ đại-dương mà sau này “hồ nước” trở thành Biển Đông[17].

Lúc mới thành-h́nh, biền này nằm ở phía Bắc khu đất h́nh chữ “S nằm ngang” của Việt-Nam.

 

 

 

Hinh 8. Trước đây chỉ Trái đất chỉ có một Đại lục-địa Pangea duy nhất bao quanh bởi biển cả. Khoảng 220 triệu năm trước, Pangea bành-trướng, dần dần các lục-địa tách rời nhau. Lưu- ư vị-trí di-chuyển của Biển Đông trong quá-khứ, đă thay đổi qua lại giữa Bắc và Nam Bán-Cầu.

 

 

H́nh 9. Vỏ Trái Đất mở rộng, đáy đại-dương giăn nở 

 

Theo các họa-đồ và tài-liệu của Cục Địa-Chất Việt-Nam[18] chúng ta h́nh-dung sự diễn-tiến h́nh-thành của Biển Đông như sau:

- Cách nay 240 triệu năm, từ h́nh tam-giác đều, hồ nước biến h́nh-thành một lá cờ đuôi nheo dài hàng ngàn cây-số. Phía cán cờ nối thẳng từ Đài-Loan tới Hoàng-Sa. Cạnh đuôi nheo chạy rất gần bờ biển Miền Trung Việt-Nam kéo dài tới khu Cù-lao Thu.

- Khoảng 220 triệu năm đến 80 triệu năm trước, h́nh-dạng cờ đuôi nheo biến-dạng thật nhanh. Biển Đông đă kéo dài hơn hai ngàn cây-số, xuống tận ngoài khơi Singapore. Trong khi đó biển Malacca đang chiếm vùng Bangkok đến Singapore cứ nhỏ dần.

- Cách nay 37 triệu năm, Biển Đông bành-trướng khá mạnh[19]. Diện-tích vào khoảng chừng 70% diện-tích hiện-thời. Sau đó mấy chục năm, Biển Đông đă thu-hút luôn cả Biển Malacca để nhập vào một Biển lớn. Vẫn chưa thấy xuất-hiện h́nh-dạng của Vịnh Bắc-Việt v́ đáy biển ở đó chưa giăn mỏng và nước chưa tràn vào.

 

H́nh 10. Biển Đông lúc mới thành h́nh

 

Tiểu lục-địa Ấn-Độ, rồi tiểu lục-địa Úc-Đại-Lợi sau khi tách ra, trôi về hướng Đông-Bắc. Khi tiểu lục-địa Ấn-Độ đụng vào lục-địa Á-Âu tạo ra dăy núi “trẻ” Hi-Mă-Lạp-Sơn, nó cũng làm vùng đất Việt-Nam xoay chuyển dần sang hướng Bắc-Nam (chữ S đứng thẳng). Biển lúc này chuyển từ từ sang phía Đông của Việt-Nam.

 

H́nh 11.H́nh-ảnh Biển Đông 220 triệu năm trước 

 

H́nh 12. H́nh-ảnh Biển Đông 140 triệu năm trước

 

1.7 - Khai-sinh của Vịnh Bắc-Việt

Ngày khai-sinh của Vịnh Bắc-Việt được Viện Địa-Chất và Khoáng-Sản thuộc Cục Địa-Chất Việt-Nam ước-lượng vào khoảng 11 triệu năm. Đáy biển giăn mỏng, ch́m xuống và vịnh có đôi khi ngập nước. Bờ Vịnh đạt tới h́nh-thể gần tương-tự như ta thấy ngày nay. Bản-đồ địa-chất có ư ghi cả chiều sâu đáy biển phía Tây của Hoàng-Sa (gần cửa Vịnh) là 200m. Cả Biển Đông và Vịnh Bắc-Việt vẫn c̣n tiếp-tục bành-trướng.

Ta biết rằng mực nước đại-dương tăng giảm theo nhiệt-độ trái đất. Mực nước này cạn trong thời-đại Băng Đá[20] và dâng cao khi băng-đá trên núi cao và hai cực tan ră. Trong khoảng 11 triệu năm qua, Vịnh Bắc-Việt đă nhiều lần khô cạn như một cánh đồng-bằng trũng.

 

 

H́nh 13. Mực nước biền tăng giảm trong thời-gian qua

 

Chính do sự trôi giạt phức-tạp của các lục-địa (kể cả lục-địa Á-Âu) mà khu-vực-Việt-Nam /Biển Đông có lúc đă ở Bắc Bán-Cầu, lại chuyển dần xuống xích-đạo. Có giai-đoạn Việt-Nam trôi xuống Nam Bán-Cầu gần vị-trí Úc-Đại-Lợi hiện thời, rồi chuyển-động ngược lại. Và ngày nay, người ta lại thấy nó hiện-diện trở lại tại Bắc Bán-Cầu.

Trong giai-đoạn h́nh-thành Biển Đông, một vùng biển-hồ nữa cũng xuất-hiện tại khu-vực phía Tây của Tây-nguyên. Biển này nằm vắt qua cả Lào, Cambodge và Thái-Lan, dần dần xa rời trung-bộ Đông-Dương di-chuyển về hướng Mă-Lai. Sau cùng biển này bị Biển Đông thu-hút.thành Biển Malacca như ta thấy hiện nay.

 

H́nh 14. H́nh-ảnh Biển Đông 80 triệu năm trước

 

H́nh 15. Sự h́nh-thành Vịnh Bấc-Việt

 

1.8 – H́nh-thể Vịnh Bắc-Việt hôm nay

Như đă tŕnh-bày ở trên, Vịnh Bắc-Việt trong quá-khứ đă trải qua nhiều giai-đoạn địa-chất. Có khi Vịnh ngập nước biển, có khi lại bị khô cạn. Khi vịnh cạn nước, nó không c̣n mang danh-hiệu của một vịnh biển nữa.

Ngày nay xem bản-đồ, chúng ta có thể tưởng-tượng Vịnh Bắc-Việt như một phần h́nh vành khăn tương-tối đều-đặn, rộng trung-b́nh chừng 150 Hải-lư. Trung-tâm vành khăn này nằm trên đảo Hải-Nam. B́a trong là bờ biển phía Tây của Đảo Hải-Nam. B́a ngoài vành khăn ấy là bờ biển vùng Bắc-Việt-Nam và một phần tỉnh Quảng-Tây của Trung-Hoa.

Tuy vậy trong khoảng 2,000 năm qua, nhân-loại đă h́nh-dung Vịnh này qua nhiều h́nh-dạng và định vị-trí của nó với nhiều sự dị-biệt. Nhiều bản-đồ được vẽ ra với những h́nh-thể không những kỳ-lạ mà vị-trí Vịnh Bắc-Việt được mô-tả cũng khác xa với thực-tế.

 

1.9 - Signus Magnus-Vịnh Bắc-Việt - thuộc Ấn-Độ-Dương?

Vào thời thượng-cổ sang trung-cổ, không có một vùng biển nào của Á-Đông nổi tiếng trong giới thượng-lưu cũng như thương-mại Âu-Châu bằng Vịnh Bắc-Việt.

Một thế-kỷ sau Tây-lịch, học-giả uy-thế Ptolemy vẽ bản-đồ thế-giới, ghi-nhận những địa-danh của "bán-đảo Vàng" Mă-lai/ Đông-Dương, Biển Đông với Vịnh Bắc-Việt. Tận cùng về phía Đông của Ấn-Độ-Dương, Ông chú-giải chi-tiết và vẽ hải-đồ hàng-hải giao-thương với một Hải-cảng thuộc Giao-Chỉ, được ghi rơ rệt là Cattigara[21]. toạ-độ 177 độ Đông kinh-tuyến, 8 độ 30' Nam vĩ-tuyến[22].

Một chuyện hăn-hữu mang tính-chất lịch-sử đă xảy ra. Đó là chuyện những bản-đồ Ptolemy được các học-giả Ả-Rập sử-dụng và nỗ-lực phổ-biến khắp nơi suốt thời-gian hơn 1,200 năm. Người ta tin-tưởng vào công-tŕnh của Ptolemy đến độ một số sai-lầm trong tác-phẩm của Ông c̣n tồn-tại cho đến cuối thế-kỷ thứ 18.[23] Trong những sai lầm đó, quan-trọng nhất là những yếu-tố địa-lư căn-bản của Vịnh Bắc-Việt bị nhiều nhà hàng-hải và cả một sổ nhà địa-lư lừng danh lập lại một cách lệch lạc đến 1700 năm sau.

 

 

H́nh 16. Biển Đông với hải-cảng chính Cattigara vẽ theo bản-đồ Ptolemy.[24]

 

Theo Ptolemy, Vịnh Biển Lớn (Signus Magnus - chỉ Vịnh Bắc-Việt) là một phần của biển Ấn-Độ. Hải-cảng chính của Vịnh này là Cattigara nằm bên bờ phía Đông của Ấn-Độ-Dương cạnh hai con sông lớn. Tài-liệu của Trường Viễn-Đông Bác-Cổ phỏng-định vị-trí hải-cảng Cattigara nằm trong khu-vực Quảng-Yên, Hồng-Gai[25].

V́ nhận ra rằng Vịnh Bắc-Việt không thể nằm về phía Tây của Việt-Nam, một nhà họa-đồ Pháp vào thế-kỷ 17 đă phân-giải sự sai-nhầm về h́nh-thể và vị-trí khu-vực Đông-Dương bằng một bản-đồ chính-xác hơn mà chúng tôi xin tŕnh-bày nơi đây. Đặc-biệt tác-giả vô-danh này c̣n ghi rất chính-xác là Vịnh Bắc-Việt (Grand Golfe/Cignus Magnus) không nằm trong Ấn-Độ-Dương mà thuộc vào Biển Đông ( Ocean Oriental[26])

 

H́nh 17. Họa-đồ Pháp phân-giải sự nhầm-lẫn về vị-trí và h́nh-thể Vịnh Bắc-Việt của các bản-đồ cổ Ptolemy.

 

1.10 - Vịnh Bắc-Việt h́nh Tam-giác?

Vào giai-đoạn kỹ-thuật hàng-hải phát-triển, các nước Âu-Châu giương buồm đi buôn bán và đưa quân đi chiếm đất khắp nơi. Một số bản-đồ liên-hệ với Vịnh Bắc-Việt căn-cứ vào những quan-trắc mới được vẽ lại. Rất nhiều hải-đồ khác lại sao đi, chép lại lẫn nhau. Nói chung, họ vẽ Vịnh Bắc-Việt như một cái h́nh tam-giác hay h́nh lá cờ đuôi nheo. Mũi nhọn của Vịnh hướng về kinh-đô Thăng-Long, mà họ ghi bằng những chữ phiên-âm từ địa-danh Kẻ-Chợ, Đông-Kinh.

H́nh 18. Vịnh Bắc-Việt h́nh Tam-giác trên một bản-đồ Tây-phương vào thế-kỷ 17 [27] Hải-Nam được vẽ rất nhỏ.

 

Trong những tấm bản-đồ thế-kỷ 17 quen-thuộc, người Việt-Nam nhận thấy trong sách của Linh-Mục Alexandre de Rhodes có vẽ rô ràng Vịnh Bắc-Việt, nhưng bờ biển lơm sâu vào tới gần Kẻ Chợ hay Đông-Kinh (Kecho/Kecio, Tumkin) tc Hà-Nội.[28] Đảo Hải-Nam được mô-tả rất nhỏ.

H́nh 19.  Trong Bản-đồ “ Đàng Trong và Đàng Ngoài” của Linh-Mục Alexander de Rhodes, Vịnh Bắc-Việt được vẽ nhọn như một lưỡi kiếm thọc sâu vào gần thủ-đô Hà-Nội.

 

H́nh 20. Vịnh Bắc-Việt với một h́nh-dạng lạ lùng thấy trên hải-đồ Francisco Rodrigues[29]. Tác-giả lại c̣n cung-cấp đầy đủ phương-vị-độ cho việc hải-hành !?.

 

Lại có cả những bàn-đồ vẽ Vịnh Bắc-Việt như một h́nh b́nh-hành, chiều dài gấp hai ba lần chiều ngang. C̣n hơn thế nữa, có hải-đồ mô-tả h́nh-thể Vịnh một cách thật là kỳ-quặc, có khi giống như củ khoai hay khúc sắn. Sưu-tầm những bản-đồ cổ loại này là một thích-thú lớn đáng kể.

 

 1.11 - Vịnh Bắc-Việt trên Bản-đồ Nhật-Bản

Nhật-Bản là nước đầu-tiên ở Á-Đông vẽ bản-đồ theo lối Tây-phương. Năm 1645, một tấm bản-đồ loại mới đó được ấn-hành mang tên Bankoku Sozu (Bản-đồ Thế-giới Tổng-Quát). Một tấm nữa mang tên Shoho, tuy có lời chú-giải bằng Nhật-ngữ, nhưng nó chính là bản sao của địa-đồ Matteo Ricci thực-hiện tại Trung-Hoa vào cuối thế-kỷ 16.

 

 

H́nh 21. - Vịnh Bắc-Việt với h́nh-thể tam-giác được vẽ trên một tấm b́nh-phong ở Nhật-Bản [30] (thế-kỷ 17)

 

Bản-đồ Nhật-Bản thời đó thường căn cứ vào tài-liệu của những người Đức và người Ḥa-Lan như Ortelius, Mercator v.v… Do đó, Vịnh Bắc-Việt đồng loạt, được họ mô-tả bằng h́nh một tam-giác. Sang đến đầu thế-kỷ 19, việc sao chép bản-đồ cổ như vậy c̣n tiếp-tục cho đến khi những bản-đồ này được thay-thế bởi các bản-đồ mang danh “Thế-giới Phật-tử và Tam-giáo”. H́nh-thể mới của Vịnh Bắc-Việt dần-dần được điều-chỉnh cho thêm phần chính-xác, đạt được tiêu-chuẩn hải-hành.

Chúng tôi xin trích-sao một góc nhỏ của tấm bản-đồ lớn “Emboudai Zu Tsuketari Knee”, lấy trong tập “Buddhist Maps of the World” (with an Illustration of the Sun), Zont, ấn-hành bằng mộc-bản năm 1828. Theo đó, ta thấy kỹ-thuật họa-đồ của người Nhật-Bản đă tiến-bộ vượt bực.

 

 

H́nh 22. Bản-đồ Nhật-Bản “Emboudai Zu Tsuketari Knee” được vẽ khá chính-xác

 

1.12 - Huyền-thoại về hải-cảng Vịnh Bắc-Việt

Trước khi Trung-Hoa phát-triển hàng-hải vào thế-kỷ thứ 5, hải-cảng sầm-uất nhất của Biển Đông nằm trong Vịnh Bắc-Việt vùng Vân-Đồn, Ḥn-gay, Hải-pḥng mà các nhà hàng-hải quốc-tế thường gọi là Cattigara. Tên này có thể là phiên-âm của một trong các địa-danh thời cổ của nước ta như Giao-Chỉ-Cauchi, Kẻ Chợ-Kesho hay Cửa Gay-Ḥn Gay/Hồng Gai.

Sau cuộc viễn-chinh của Alexandre Đại-đế (336-323 Trước Tây-lịch- TTL.) sang Ấn-Độ, nhiều giao-tiếp đă xảy ra giữa Âu-Châu và Á-Châu. T đó, người Hy-Lạp biết thêm nhiều sinh-hoạt của người Á-Châu. Eratosthene (275-195 TTL) viết sách Geographia, Ptolemy (khoảng 100-170) phát-triển môn địa-lư, viết sách và h́nh-dung ra một bản-đồ thế-giới[31] mà tận-cùng về phía Đông-Đông-Nam là bán-đảo Vàng Chersonese và hải-cảng Kattigara (kinh-độ 117 độ Đông, vĩ-độ 8 độ Nam). Kinh-tuyến gốc được lấy từ đảo Ferro - (Islands of the Blest- quần-đảo Canary). Nhiều người cho rằng bán-đảo Vàng là Đông-Dương và Kattigara (hay Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long-Biên (Lugin) hay Hà-Nội ngày nay.

Riêng về từ-ngữ hàng-hải, ta có thể hiểu chữ Cattigara theo như nghĩa người Bắc-Âu: Kati là Tàu thuyền, Gata là hải-đạo.? Như vậy Kattigara có nghĩa là chỗ hải-cảng mà tàu thuyền hải-hành tới.

Ông B́nh-Nguyên-Lộc không thỏa-măn với vị-trí ước-đoán cho rằng Kattigara nằm trong vùng Kẻ Chợ Hà-Nội, mà nghĩ rằng Kattigara có thể là Kẻ Thị Gay, tức thành-phố Ghe thuyền. Ông suy ra tên Kattigara chính là địa-danh của thương-cảng Ḥn-Gay như ta vẫn gọi ngày nay?

Việc xác-định xem thương-cảng Kattigara ở đâu vẫn chưa thực-hiện được. Theo ư một vài nhà nghiên-cứu, khi biết đúng vị-trí, những cuộc khai-quật chắc chắn sẽ mang lại thêm nhiều hiểu biết mới và giúp chúng ta trả lời được nhiều câu hỏi chưa có giải-đáp về thành-quả hàng-hải và thương-mại của người cổ Việt.

Tác-giả cuốn sách "Ancient India as Described by Ptolemy" là J.W.MacGrindle, cũng đồng-ư Kattigara là Hà-nội. Nơi trang 9, lời tác-giả ghi-chú: "Trung-Hoa trong gần 1,000 năm đă được biết như là quốc-gia nằm trong nội-địa Á-Châu (inner Asia)". Tại trang 26, ông viết: "...với lư-thuyết rằng Kattigara, điểm xa nhất về phía Đông tới được bằng đường biển, phải nằm gần hay trên cùng kinh-tuyến với nước Tàu, điểm xa nhất đi đến được qua đất liền[32]."

Người Âu-Châu thời đó, khi nghĩ đến Đông-phương hàng-hải là nghĩ đến vùng đất quê-hương chúng ta nhiều của cải, đầy vàng bạc châu báu, và cửa biển chính thông-thương ở Vịnh Bắc-Việt. Từ trước thời Bắc-thuộc, lưu-vực sông Hồng, sông Mă đă là những trung-tâm hàng-hải cùng thương-mại phồn-thịnh, hàng-hoá đi khắp nơi và có nhiều mối liên-lạc với Tây-phương. Sự giao-thương này chắc chắn sâu-đậm đến mức-độ tất cả những bản-đồ thế-giới do Tây-phương ấn-hành suốt mười mấy thế-kỷ sau đó, đều cố ghi địa-danh Kattigara.

Thật lạ lùng là sau chuyến đi của Marco Polo sang Á-Đông vào thế-kỷ 13, các nhà địa-lư đă không sửa được bản-đồ cho đúng, mà cả sau khi Magellan mất mạng trên đường đi ṿng quanh thế-giới (năm 1521), tọa-độ địa-dư của Kittigara (Thăng-Long hay một hải-cảng nào trên bờ Vịnh Bắc-Việt cũng vậy) vẫn giữ nguyên như cũ.

Khi t́m được Tân Thế-giới, người Âu-Châu tưởng rằng ḿnh đă khám-phá ra được con đường hàng-hải sang Á-Châu và đinh-ninh sẽ t́m ra được cảng Kattigara của Vịnh Lớn Bắc-Việt. Địa-danh hải-cảng này do đó được tiếp-tục ghi trên lục-địa Mỹ-Châu trong nhiều thế-kỷ. Anh em nhà Columbus[33] cũng như Amerigo Vespucci và Ferdinand Magellan[34] cùng chép trong Sổ Hải-hành sự mong đợi được ghé tàu cặp bến xứ ta.

Tên America, chỉ-danh của toàn-thể lục-địa Mỹ-Châu, được đặt theo tên của nhà hàng-hải Amerigo Vespucci. Ông là người đầu tiên xác-định được “tân-thế-giới” không phải là lục-địa Á-Châu. Tuy vậy, Vespucci vẫn không giám quả-quyết hướng đi nào dẫn tới Kattigara và rất có thể, giống những người đồng-thời, Ông phỏng-đoán “Giao-chỉ” ở đâu đó rất gần vùng đất mới. H́nh-ảnh hải-cảng huyền-thoại đó không nhng đă đeo đuổi Ông mà c̣n đeo đuổi tiếp-tục những nhà hàng-hải và họa-đồ thế-giới theo sau nghề-nghiệp của Ông hàng thế-kỷ.

 

 

H́nh 23. Bản-đồ Sebastian Múnster (1540) “định-vị” hải-cảng Bắc-Việt Cattigara trên Nam-Mỹ-Châu

 

Trở lại quá-khứ để t́m hiểu, một nhà nghiên-cu hàng-hải thế-kỷ 20 đă đặt các hải-đồ thông-dụng thời đó lên trên cầu-đồ th́ thấy rằng:

- Những hải-đồ vẽ theo tài-liệu Ptolemy (hải-đồ Behaim (1492) trong trắc-nghiệm này) cho vị-trí Vịnh Bắc-Việt (và hải-cảng Cattigara) quá xa về hướng Đông, tức gần sát với Nam Mỹ-Châu.[35]

- Những hải-đồ họa h́nh Tân Thế-giới cũng sai-lệch (hải-đồ La Cosa (1500) trong trắc-nghiệm này) cho thấy bờ biển Trung và Nam-Mỹ như “muốn vươn dài” qua phía Á-Châu.

Phần lớn sự lầm-lẫn là v́ các nhà hàng-hải quá tin vào kiến-thức thời Ptolemy, do đó “vẽ phỏng chừng” Vịnh Bắc-Việt mà thôi. Có một sự trùng-hợp ở đây: khi xưa (thời Ptolemy) có nhiều người tin là vịnh biển nước ta quay ra Ấn-Độ-Dương th́ nay những nhà hàng-hải “hậu Columbus” cũng lại cho rằng “Vịnh Bắc-Việt” phải nằm đâu đó ở “Nam Mỹ” và quay ra biển Thái-B́nh-Dương.

 

 

H́nh 24. Khi đặt hai hải-đồ Behaim và La Cosa lên trên cầu-đồ người ta hiểu tại sao Vịnh Bắc-Việt đă nhiều lần được vẽ trên bờ biển Nam Mỹ-Châu (vởi hải-cảng Cattigara) trông ra Thái-B́nh-Dương.

  
Chương 2

Địa-Lư Thiên-Nhiên:

Biển, Đảo và Duyên-Hải Bắc-Việt

 

2.1 - Quang-cảnh chung Bờ biển Việt-Nam

Đường bờ biển thay đổi không ngừng. Quang-cảnh bờ Vịnh Bắc-Việt mà ta thấy hiện nay, cũng như của các nước trong khu-vực, mới được h́nh-thành cách đây khoảng 4-5 ngh́n năm, sau thời-kỳ biển tiến Flandri. Đường bờ biển trải ra trên chiều rộng hay hẹp là tùy thuộc vào độ chênh của mức thủy-triều cao và mức thủy-triều thấp ở từng địa-phương. 

 

H́nh 25. H́nh-ảnh biển Đông theo Katsushika Hokusai (1760-1849)

 

Nếu phân chia chi tiết th́ người ta có thể nhận ra ít nhất đến 11 đoạn bờ biển Việt-Nam có những đặc điểm h́nh-thái và động lực khác nhau. Tuy vậy về đại-quát theo Giáo-Sư Địa-lư Lê Bá Thảo th́ chỉ có hai kiểu bờ biển: kiểu đồng-bằng và kiểu đá gốc[36]. Ông mô-tả hai loại đó như sau:

(1) Các "xứ" đồng-bằng (các đồng-bằng cửa sông, các châu-thổ) đều có bề mặt nghiêng nhẹ về phía biển và kết thúc bằng những bờ biển bằng phẳng và thấp. Sóng, thủy-triều và các ḍng phù-sa ven bờ hàng ngày vẫn làm chúng biến đổi tuy rằng để nhận thấy được điều đó, cần phải có một thời gian dài đến một vài chục năm.

Trên bờ biển Vịnh Bắc-Việt, có một đoạn thuộc "xứ" đồng-bằng kéo dài từ nam Quảng Yên đến Quảng-Trị. Có những đường bờ bị chia cắt mạnh mẽ bởi các cửa sông h́nh phễu và các lạch triều với nhiều đảo phù-sa mà độ cao không chênh bao nhiêu so với mực nước biển. Đấy là kiểu bờ biển các châu-thổ thủy-triều của hệ-thống sông Thái B́nh ở miền Bắc và của hệ-thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ ở phía nam. Lại có kiểu đường bờ bằng phẳng và liên-tục của các châu-thổ và đồng-bằng ŕa phía nam các cửa sông, thông-thường lầy lội, có các bộ phận bị mài ṃn và bồi tụ xen kẽ. Đấy là trường hợp của cả hai châu-thổ sông Hồng và châu-thổ sông Cửu-Long.

Các khúc bờ biển bằng phẳng từ Thanh Hóa trở vào đến đèo Hải-Vân được giới hạn ở các cửa sông. Các đoạn trung gian giữa hai cửa sông là đồng-bằng thuộc nhiều nguồn gốc. Tại Vịnh Bắc-Việt, khu-vực Quảng B́nh chỉ có các cồn cát phong thành. Trong khi đó, người ta thấy ở các nơi khác là các mũi tên cát chắn những đầm phá ở bên trong (như ở Thừa Thiên), có nơi là những băi lầy sú vẹt như đoạn từ mũi Cà Mau lên đến Rạch Giá. Nói chung đặc-tính chung của bờ biển các "xứ" đồng-bằng là bằng phẳng nhung không phải v́ thế mà bờ biển trở thành đơn điệu.

(2) Bờ biển của các "xứ" núi, núi ra sát biển khúc khủyu, bị chia cắt bởi nhiều vũng, vịnh nhưng rất ít kiểu bờ vách đá gốc.

Có hai đoạn bờ biển Việt-Nam thuộc "xứ" núi: đoạn từ Móng Cái về đến Yên Lập ở Bắc Bộ và đoạn từ Đà Nẵng xuống đến mũi Dinh, kéo dài cho đến Vũng Tàu.

Toàn bộ đoạn thứ nhất thuộc tỉnh Quảng-Ninh, một tỉnh thuộc miền núi Đông Bắc. Bờ biển lởm chởm những mũi đá do có nhiều sông suối ngắn từ nội-địa chảy ra cắt qua các dẫy thềm biển (hoặc sông biển). Mặt bằng ven biển rất ít, người ta chỉ có thể thấy một không-gian tương-đối hẹp như vậy ở Tiên-Yên, nhưng mà lại chính trên bậc thềm cao của sông Phố Cũ, và ở Móng Cái, trong thực-tế cũng là một bậc thềm mài ṃn. Toàn đoạn bờ biển này nh́n ra vùng quần-đảo Bái-Tử-Long và Hạ-Long là vùng núi đồi bị ch́m ngập.

Đảo ven bờ lớn nhất là đảo Cái Bầu và xa hơn về phía Tây Nam là đảo Cát Bà, cả hai đảo này đều c̣n giữ được nhiều loài cây và thú quư hiếm. Vịnh cho tàu đậu lớn nhất và có giá-trị kinh-tế quan-trọng là vịnh Cửa Lục, nơi có cảng nước sâu duy nhất của Bắc Bộ, là cảng Cái Lân.

 

 

H́nh 26. Vùng Hồng-Gai có nhiều đảo chi-chít, nằm sát bờ

 

2.2 – Các đoạn Bờ biển Vịnh Bắc-Việt

Theo đặc-tính của địa-thế, Các tác-giả Vũ Nguyệt Minh, Lữ Đông Hà, Lê Khánh Tâm, Quỳnh Tố Thùy của cuốn sách "Nước Tôi Dân Tôi"[37], bờ biển Vịnh Bắc-Việt có thể được chia thành hai đoạn như sau:

- Đoạn Móng Cáy - Hải-Pḥng: Bờ biển hiểm trở. Trong các vịnh ven biển như vịnh Hạ-Long và vịnh Bái-Tử-Long có hàng ngàn đảo nhỏ và những đảo lớn như Cái Bầu, Cát Bà, Cái Bàn... Phong cảnh hang động và đảo ở vịnh Hạ-Long được xen như những kỳ quan ngoạn mục nhất vùng biển Đông Nam Á. Hải-Pḥng và Cái Lân là hai hải-cảng quan-trọng trong đoạn bờ biển nàỵ.

- Đoạn Hải-Pḥng - Quy Nhơn: Bờ biển hầu hết đều thấp và phẳng, Có những núi thuộc dăy Trường Sơn đâm ngang tạo thành những mũi đá nhô ra biển như mũi Sầm Sơn ở Thanh Hóa, mũi Rọn dưới chân đèo Ngang giữa Hà Tĩnh và Quảng B́nh. Cảng Cửa Ḷ là hải-cảng quan-trọng nhất

Xa hơn về phía Nam của Vịnh Bắc-Việt, địa-thế bờ biển cũng tương-tự. Mũi Chân Mây dưới chân đèo Hải-Vân, nằm giữa Thừa Thiên và Quảng Nam. Mũi Ba Làng An ở Quảng Ngăi, mũi Yến ở Quy Nhơn. Những hải-cảng quan-trọng trong đoạn bờ biển này là Đà Nẵng và Quy Nhơn.

 

2.3 - Đáy Biển của Vịnh Bắc-Việt

Đáy Biển Đông của Việt-Nam có thể chia làm 3 phần:

- Khu-vực Vịnh Bắc-Việt

- Khu-vực Biển miền Trung từ Đảo Cồn Cỏ (vĩ-tuyến 17 Bắc) xuống đến vĩ tuyến 10.30'B, tức là đến tận Phan Thiết.

- Khu-vực biển phía nam bao gồm phần c̣n lại cho đến vịnh Thái Lan.

Trong ba khu-vực biển này th́ nói chung, địa-h́nh đáy của Vịnh Bắc-Việt tuy phẳng-phiu nhất, nhưng lại có một vùng nhỏ phía cực Bắc mang nhiều sự phức tạp hơn cả. Địa-h́nh đáy biển vịnh Bắc-Việt hơi nghiêng về phía Đông Nam. Độ sâu ở trung-tâm vịnh chỉ đạt đến 70-80m. Đáy biển ở cửa vịnh sâu tới khoảng 90-100m.[38]

Đoạn từ Móng Cái đến Hải-Pḥng có hàng ngàn đảo lớn nhỏ thuộc hai vịnh Bái-Tử-Long và Hạ-Long. Lại có nhiều luồng lạch lớn nhỏ chia cắt đáy biển ra nhiều mảnh nhỏ bé. Địa-h́nh đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung-b́nh là 20m. Có những lạch sâu là di-tích các ḍng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng của các rạn san-hô rất đa-dạng. các ḍng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển c̣n tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải-cảng trên dải bờ biển khúc khủyu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm-năng cảng biển và giao-thông đường thủy rất lớn.

Từ nam Hải-Pḥng đến Nghệ An - Hà Tĩnh, ứng với một bờ biển phẳng; địa-h́nh thềm lục-địa tương-đối đơn giản với các dạng tích-tụ tiền châu-thổ. Bờ biển do đó, chạy thoai thoải dần từ bờ ra khơi.

Từ nam Nghệ Tĩnh xuống đến Đà Nẵng (hay cửa vịnh Bắc-Bộ), ta thấy xuất hiện các dăy đê cát ngầm chạy song song với đường bờ, kể cả các thềm đá gốc - các bensơ - trong khi ở phía ngoài khơi, các dạng địa-h́nh âm và dương xen kẽ với nhau một cách phức tạp, có lẽ liên-quan đến sự cắt chéo ngang nhau của hệ-thống đứt găy sông Hồng và hệ-thống đứt găy ngoài xa theo kinh-tuyến 109 Đông.[39]

Những bản-đồ Geomorphology vẽ đáy biển 3 chiều cho ta một cái nh́n tổng-quát. Đáy biển Vịnh Bắc-Việt ghi dấu vết các con sông thời cổ nối dài theo con sông Hồng. Các ḍng chảy hướng ra gần đảo Hải-Nam, rồi xuôi về biển Hoàng-Sa. Các túi dầu-khí mà Trung-Cộng đang khai-thác trong Vịnh Bắc-Việt và ở Hoàng-Sa nằm rất gần những con sông cổ xưa này. Có thể nói rằng dầu-khí chính là kết-quả làm việc của con sông Hồng hàng mấy chục triệu năm qua.

Một cách tổng-quát, ta có thể nói trừ những nơi lởm-chởm chi chít hải-đảo vùng Hải-Pḥng Quảng-Ninh, đáy biển Vịnh Bắc-Việt là một vùng “đồng-bằng lư-tưởng” rất lớn và phẳng-phiu. Trên lục-địa không thể nào có được một cảnh-quan tương-tự như vậy. Thiên-nhiên lại c̣n ban-phát cho vùng này một “ngọn núi - Trấn-Sơn” Bạch-Long-Vĩ, đột-nhiên nổi lên ở giữa khu-vực như cái cột cờ, cao tới gần 100 thước[40].

 

 

H́nh 27. Bản-đồ đáy biển Vịnh Bắc-Việt rất phẳng-phiu với vết tích con sông Hồng và các phụ-lưu của nó mang nước ra biển Hoàng-Sa

 

2.4 - Duyên-hải Vịnh Bắc-Viêt: nơi rộng ph́nh ra, nơi bóp hẹp lại

Quan-sát bản-đồ thế-giới trên phần lục-địa, người ta không thể t́m thấy một quốc-gia nào được sở-hữu một vùng bờ biển quan-trọng về mọi mặt, không những dài mà lại lắm tài-nguyên như Việt-Nam.

Theo giáo-sư Joseph R. Morgan của đại-học UC Berkley và luật-sư Mark J. Valencia của Viện Nghiên-Cứu Đông-Tây ở Hawaii, Việt-Nam có tới 2,828 hải-lư (tức 5,237 km) bờ biển[41]. Tỷ-lệ bờ biển nước ta so với diện-tích lănh-thổ cao hơn hầu hết các quốc-gia khác trên thế-giới. V́ thế, tâm-hồn và sinh-hoạt Việt-Nam gắn liền với biển. Joseph Buttinger ước-lượng rằng đại đa-số người Việt-Nam sống sát với biển cả trong ṿng 50 hải-lư.[42]

Kích-thước rộng hẹp của Việt-Nam có lẽ cũng nói lên một khía cạnh về tiềm-lực dân-tộc. Tại duyên-hải Vịnh Bắc-Việt, khu-vực “miền Bắc Khai-nguyên”, từ lâu tiền-nhân đă mở nước tối đa. Từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây, Bắc-Việt rộng tới 600km. Nhân-số gia-tăng đ̣i hỏi quốc-gia phải gia-tăng đất đai. Nhưng phía Bắc th́ đụng Trung-Hoa, phía Tây bị các dăy núi chận lại. Nơi hẹp nhất chính là Quảng B́nh với 50 km chiều ngang.

Vậy dân ta chỉ c̣n cách dựa vào biển phía Đông mà tiến về phương Nam để mở mang bờ cơi. Xung-lực tác-dụng của “trái bóng dân-số” được thể-hiện rơ ràng về mặt địa-lư: Việt-Nam đă kiểm-soát toàn-thể miền Trung, rồi chiếm-hữu đồng-bằng Nam-Việt. Ở đó, có nơi rộng tới 400 km.

Như quá-khứ đă chứng-minh, cả trong hiện-tại lẫn tương-lai Việt-Nam sẽ không thể nào xa cách với biển cả. Trong những giai-đoạn sinh-tử, tồn-vong của đất nước; người Việt chúng ta cũng cứ bám lấy biển. Một trong những biểu-hiện dễ thấy nhất là trên đường mở nước, tiền-nhân chúng ta đă lần từng bước men theo bờ biển để tiến tới. Cuộc Nam-Tiến chính là biểu-hiện liên-tục của một con rồng vươn dài ôm lấy Biển Đông vậy.

 

2.5 - Hệ-thống các Ḍng chảy ra Vịnh Bắc-Việt

Theo Giáo-Sư Lê Bá Thảo, sông ng̣i ở Việt-Nam về mặt h́nh-thái phụ thuộc rất nhiều vào cấu-trúc địa-chất - địa-h́nh nhưng về mặt đặc-tính của ḍng chảy th́ là do khí-hậu quyết-định. Cả hai điều-kiện đó đă dẫn tới kết-quả là Việt-Nam có một mạng lưới sông ng̣i dày đặc, có thủy-chế thay đổi rất mạnh theo mùa và theo khu-vực.

Đối với con người cũng như đối với cảnh-quan, nơi nào có sông ng̣i chảy qua th́ nơi đó có sự sống; điều đó được phản-ảnh trước hết trong bức tranh phân bố dân-cư và với các hoạt-động kinh-tế nhiều mặt đi kèm theo.

Các sông lớn và trung-b́nh của Việt-Nam đóng vai tṛ quan-trọng trong việc cung cấp nước cho những đồng-bằng và châu-thổ, nhưng chính 2170 sông nhỏ và suối có diện-tích lưu vực dưới 100 km2 (chiếm 92,55 % tổng số sông suối của cả nước) mới làm cho gần như không có bộ phận nào của lănh-thổ lại không hưởng được tác-dụng tốt lành của ḍng chảy, đặc biệt là ở miền núi và trung du.[43]. Có điều đáng ngạc nhiên – theo Nguyễn Viết Phổ [44] - là mật-độ lưới sông ở đồng-bằng Bắc-Việt không khác với vùng đồi núi, mật-độ này cao hơn so với các vùng cao nguyên.

Bản-đồ mật-độ sông suối Việt-Nam cho thấy phần lớn lănh-thổ có mật-độ trung-b́nh từ 0,5 đến 1km trong mỗi km2. Mật-độ lưới sông đạt chỉ-số cao nhất lên đến 2-4 km/km2 ở Đông-Nam châu-thổ sông Hồng và sông Thái B́nh cũng như ở đồng-bằng sông Cửu-Long do nhu-cầu thoát nước rất lớn. Mật-độ này cũng cao (1,5 đến 2 km/km2) ở các khu-vực trung-tâm mưa lớn như ở Móng Cái, khối Ṿm sông Chảy, bắc Hoàng Liên Sơn, khu-vực đèo Ngang, đèo Hải-Vân v.v..[45]

 

2.6 - Sông Hồng, một con Sông vĩ-đại Thời xưa

Nguồn nước lớn nhất đổ vào Vịnh Bắc-Việt là do Sông Hồng.

Theo tài-liệu của Cục Địa-Chất Việt-Nam[46] cách nay 37 triệu năm, Biển Đông được bao bọc ở phía Nam bởi khối đất Sumatra, phía Đông bởi khối Kalimantan, Philipin; phía Bắc bởi khối Dương-Tử, phía Tây bởi Việt-Nam nằm quá nửa trên khối đất Indonisia.

Sông Hồng lúc đó chảy theo một nếp gấp địa-chất rất dài. Hữu-ngạn là các khối đất Tây-Tạng, Sơn-Thái, Indosinia, Tả-ngạn là khối Dương-Tử và Cathaysia. Gần như tất cả nước mưa của toàn-thể khu-vực Đông-Á, Nam-Á, và có thể cả nước mưa khắp Trung-Á cũng đổ về Hồng-Hà mà ra Biển Đông. Lưu-lượng của Sông Hồng thời đó có thể nhiều lần lớn hơn lưu-lượng các sông Nile, Amazone, Dương-Tử. Sông Hồng cùng nhiều phụ-lưu của nó với các cửa sông thật rộng lớn, ước-lượng có đến hàng chục cây-số.

H́nh 28. Hàng chục triệu năm trước, Sông Hồng là một đại trường-giang khởi-nguyên từ Trung-Á, Tây-Tạng, qua Vịnh Bắc-Việt “khô-cạn”, chạy dài ra tận Hoàng-Sa.

 

Từ trên cái "mái nhà của trái-đất", nguồn nước hùng-vĩ đă mang ra Biển Đông những khối-lượng phù-sa khổng-lồ, tạo nhiều lớp kết tầng thủy-tra-thạch tại Hoàng-Sa. Rồi ḍng sông chính của miền Bắc nước ta bị thu nhỏ khi địa-chấn xảy ra, nâng cao khu Vân-Nam cắt ngắn thượng-nguồn Hồng-Hà lại như ta thấy hiện nay. Nguồn nước từ đó bắt đầu chảy sang phía Dương-Tử-Giang làm con sông vùng Hoa-Nam thêm to lớn.[47]

Cho dù đă bị cướp mất cái kỷ-lục “oai-dũng” ngày xưa, Sông Hồng vẫn tiếp-tục công-việc cần-cù và nhẫn-nại của nó trong việc bồi-đắp vùng châu-thổ Bắc-Việt. Thống-kê cho thấy về công-tŕnh này, Sông Hồng luôn-luôn vượt Sông Cửu-Long[48] Con sông lớn nhất Miền Bắc đó bắt nguồn từ dăy núi Ngụy Sơn, gần hồ Đại Lư (Vân Nam - Trung Quốc) chảy vào nước ta ở vùng Hà Khẩu (Lào Cai). Lưu-lượng của sông rất lớn (từ 700m3/giây mùa khô, tăng đến 28,000m3/giây vào mùa nước lũ)[49]. Có khi nước ngọt được t́m thấy ngoài biển xa cửa sông tới một khoảng cách 30 km.

 Hàng năm Sông Hồng chuyển tải một khối lượng phù-sa vĩ-đại tới 130 triệu tấn, lấp dần vịnh Bắc-Việt để tạo nên một đồng-bằng rộng lớn, màu mỡ.

Tài-liệu “Dự án Quản lư Tài nguyên Nước Lưu vực sông Hồng[50] ghi nhận trong trận lụt kinh hồn năm 1971, lưu-lượng đạt kỷ-lục 38,000m3/giây gây cho gần 500 người chết [51]. Thiên-tai “nước” này khủng-khiếp hơn “lửa” nhiều![52] Việc trị-thủy Sông Hồng qua hàng ngh́n năm vẫn c̣n là vấn-đề sinh-tử, cần phải được duyệt xét để t́m ra giải-pháp hừu-hiệu hơn.

H́nh 29. Một Giả-thuyết của Leloup Philippe Hervé[53]: Khi địa-chấn xảy ra, khu Vân-Nam được nâng cao cắt ngắn thượng-nguồn Hồng-Hà

 

Thủ-đô Hànội, “chốn cũ Thăng-Long ngàn năm văn-vật” nằm trên hữu-ngạn sông Hồng cách Vịnh Bắc-Việt chừng 85 hải-lư. Về xác xuất xảy ra động đất tại Hà Nội, các nhà nghiên-cứu cho rằng, Hà Nội nằm trên khu-vực đứt găy sông Hồng, nơi đang ở giai-đoạn hoạt-động mạnh nên trong tương-lai, khu-vực Hà Nội rất có thể sẽ phải hứng chịu một trận động đất mạnh tới 5,3 độ Richter. V́ ḷng đất được cấu-tạo yếu, cộng với sự phát-triển mạnh của các khu dân cư và trung-tâm kỹ nghệ, lại thêm sự khai-thác nước ngầm bừa băi, mức độ tàn phá của động đất tại Hà Nội, nếu xảy ra sẽ rất lớn.

 

2.7 – Hệ-thống Sông Thái-B́nh

Đóng góp vào công-tŕnh xây đắp đồng-bằng Bắc-Việt, hệ-thống sông Thái B́nh cũng đă làm việc đáng kể.

Sông Thái B́nh hợp bởi các Sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam tại Phả Lại. Nguồn nước chảy qua tỉnh Hải-Dương rồi đổ ra cửa chính tại tỉnh Thái B́nh. Các phân lưu của hệ thống này c̣n được gọi là Lục Đầu Giang, tất cả đều nằm về phía tả ngạn sông Thái B́nh:

- Sông Văn Úc, một đoạn tên sông Hương, một đoạn tên sông Rang, đổ ra cửa Văn Úc.

- Sông Lạch Tray, nối sông Văn Úc chảy ngang qua Hải-Pḥng, ra biển bằng cửa Rạch Traỵ

- Sông Kinh Thầy, thoát lưu của sông Thái B́nh từ Phả Lại, đến

Thạch Liên chia thêm một nhánh nhỏ là sông Kinh Môn, hai nhánh này nhập lại trước khi đổ ra biển ở cửa Cấm.

- Phân lưu sau cùng của sông Thái B́nh là sông Đà Bạch, tức Bạch Đằng Giang, cửa sông là một vùng đồng lầy rộng lớn..[54]

Sông Bạch Đằng là con sông chiến-lược nổi tiếng nhất trong lịch-sử Việt Nam, đó là nơi dân-tộc Việt-Nam đă 3 lần đánh bại quân xâm-lược phương Bắc. Trong đó, chiến-thắng thứ ba đánh thắng quân Nguyên Mông được cả thế-giới biết đến. Nhiều cọc gỗ nhọn đă xuyên thủng tàu giặc, sau 700 năm c̣n được t́m thấy tại đây.

Xưa kia, núi Voi và núi Đồ Sơn là những cù lao ở giữa biển. Đất phù-sa của nhóm sông Thái-B́nh, khi ăn lan măi ra biển, đă làm những cù lao này dính vào đất liền, trở thành những ngọn núi.

 

2.8 - Đồng-bằng Bắc-Việt

Sông ng̣i xứ Bắc nước ta rất nhiều, tất cả đều chảy vào Biển Đông, chỉ trừ có một con sông là Kỳ-Cùng chảy ngược về phía Trung-Hoa[[55]. Tổng-số chiều dài các con sông là 41,000 km với lưu-lượng chừng 300 tỷ m3 nước. Phụ vào đó là 3.100 km kinh rạch nhân-tạo.

Đứng chung trong bảng thống kê lớn như vậy, sông Hồng chỉ chiếm có 510 km chảy trên lănh-thổ Việt-Nam, (trong tổng-số chiều dài Vân-Nam - Biển Đông 1.149 km của nó.) Tuy vậy, đối với dân ta, con sông này chính là con sông khởi-nguyên lịch-sử của dân-tộc.

Đồng-bằng sông Hồng (ĐBSH) rộng vào khoảng 15,000km2. Địa-bàn này là nơi cư-trú của người Việt cổ, cũng là nơi h́nh-thành nền văn-minh lúa nước. Đây c̣n là vựa lúa lớn thứ hai của đất nước gồm các tỉnh, thành: Hà Nội, Hải-Pḥng, Thái B́nh, Nam-định, Hải-Dương, Hưng Yên, Ninh B́nh, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hà Tây. Tính chi-tiết hơn, trong diện-tích 1,479,466 ha của châu-thổ, số đất đang sử-dụng là 1,032,000 ha (82,46%) bao gồm hầu hết là đất nông-nghiệp với 822,182 ha (chiếm 55,67%). Tuy nhỏ hơn vùng đồng-bằng Cửu-Long, nhưng theo nhiều nhà canh-nông, vùng đất phù-sa sông Hồng thuộc loại màu mỡ nhất của đất nước ta.

Nằm trong khu-vực nhiệt-đới gió mùa, thiên-nhiên lại ban tặng cho ĐBSH thêm một thứ đặc sản, đó là mùa đông. Cái lạnh mùa đông là điều-kiện thuận-lợi cho cây trái vùng hàn đới, ôn đới sinh sôi nảy nở. Chính v́ thế động, thực-vật ở đây rất phong-phú.

Trong ṿng hai thập-niên qua, môi-trường sinh-hoạt của nông-dân miền Bắc khá hơn đôi chút. Tuy vậy, cho dù nông-thôn đă được điện-lực-hoá nhưng hiện-thời t́nh-trạng vệ-sinh toàn vùng rất tồi tệ. Tại miền quê, hầu hết ao hồ bị ô-nhiễm nặng. Ở thành-phố, t́nh-trạng cũng không khá hơn, sông Tô-Lịch[56] nay là một con rạch nước tù hăm, mang nhiều mầm bệnh tật.

 

 

H́nh 30. Các Cửa Sông chính vùng Châu-thổ Miền Bắc

 

Người ta ước-lượng rằng hàng năm đất bồi thêm lấn biển từ 50 đến 100 thước. Như thế mỗi năm khu tân-bồi được nh́n thấy không có bao nhiêu, nhưng sau một thiên-kỷ th́ đất sẽ trườn ra ngoài Biển Đông 4, 5 hay 7 chục cây-số. Trường hợp mực nước biển lại theo đúng chu-kỳ phỏng-định mà rút xuống, vùng đất mới sẽ lớn nhanh theo gia-tốc. Vào những năm 3000, 4000; Vịnh biển Bắc-Phần sẽ nhỏ hẹp lại và diện-tích vùng ĐBSH rất có thể tăng lên gấp rưỡi.

Những băi Tự-nhiên, những đầm Nhất Dạ, các cửa Đại-Ác, cửa Thần-Phù trong lịch-sử năm xưa ở sát biển, hiện giờ đă lùi sâu vào nội-địa. Các bạn quê sát biển di-cư 1954, ngày nay hồi-hương không c̣n nghe được tiếng biển gầm v́ nhiều làng xóm mới mọc lên chắn ngang những con đường ra ngoài băi biển.

 

2.9 - Hải-Cảng Vịnh Bắc-Việt

            Chính-sử Việt-Nam ghi nhận Quan Lạng như hải-cảng nước ta thời tư-chủ. Vào thế kỷ 12, Quan Lạn thuộc huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh ngày nay, chính là thương cảng đầu tiên của Việt Nam do triều Lư xây dựng.  Đảo Quan Lạn vẫn c̣n giữ được một vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ không kém một ḥn đảo nào trong quần thể thắng cảnh Hạ Long. Tại đây, hằng năm c̣n diễn ra lễ tế vua Lư Anh Tông và lễ hội chèo thuyền vào tháng năm, tháng sáu âm lịch.

            Ngày nay, cảng nước ta xây-dựng khắp nơi. Hệ-thống cảng biển bao gồm phần lớn là các cảng cá, phân bố trên địa-bàn của 111 huyện, thành-phố hoặc thị xă - thị trấn ven biển. Các cảng lớn như Hải-Pḥng, Đà Nẵng, Vũng Tàu... có nhiều chức năng nhưng cũng có cảng cá phụ thuộc.

Vào thời điểm năm 2010, Việt Nam dự-trù sử-dụng 114 cảng biển được chia thành 8 nhóm, phân bố dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Kiên Giang. Mỗi nhóm cảng là một hệ thống cảng nhỏ, có sự hỗ trợ liên-hoàn với nhau.

 Riêng nhóm cảng Bắc-Việt, chỉ tính từ Quảng-Ninh đến Ninh B́nh đă gồm tới 27 cảng lớn nhỏ, trong đó các cảng Hải-Pḥng, Cửa Ông và Cái Lân đóng vai tṛ quan-trọng nhất. Tại khu-vực Hải-Pḥng c̣n có một số cảng mới như Đ́nh Vũ, Bạch Đằng ra đời nhằm phục-vụ các khu công-nghiệp. Cái Lân được xác-định là cảng nước sâu trọng-điểm, cho phép đón nhận tàu đến 50,000 DWT[57], với công-suất 2 triệu tấn/năm. Ngoài các cảng than ở Cẩm Phả có công-suất 5 triệu tấn/năm, trong tương-lai Việt-Nam sẽ xây-dựng thêm cảng chuyên dùng cho nhà máy thép cũng có công-suất 5 triệu tấn/năm.

 

H́nh 31. Hệ-thống Cảng Biển chính miền Bắc-Việt-Nam

 

Nhóm cảng Bắc Trung-phần có nhiệm-vụ chính phục-vụ phát-triển kinh-tế 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, đồng thời thu hút hàng quá cảnh của Thái Lan và Lào, với cảng Cửa Ḷ là cảng trung-tâm. Vào năm 2000 lượng hàng thông qua cảng đạt 1,5 - 1,8 triệu tấn. Dự-tính sẽ tăng lên 2,5 - 3 triệu tấn vào năm 2010[58].

 

 

Amount of cargo to he Handled by port groups (million tonnes)

1. Group of the ports of Hai Phong and Cai Lan and northern ports

25 ports, including 13 general ports (two of which are major ports) and 12 specialized ports

By 2003 

21-24 million tonnes

By 2010

 57-69 million tonnes

2. Group of ports in the northern part of central region (Thanh Hoa, Nghe An and Ha Tinh)

Eight ports, including five general ports (three main ports) and three specialised ports

3-4

million tonnes

23-26 million tonnes

H́nh 32. Khả-năng 2 hệ-thống cảng biển Vịnh Bắc-Việt.

 

Từ trước đến giờ, nước ta chỉ có 2 cảng lớn cỡ quốc-tế là Hải-pḥng và Sài-g̣n. Để phát-triển kinh-tế, Việt-Nam đang cải-tiến và xây-cất thêm nhiều cảng biển trong ṿng 10 năm tới. Từ Bắc vào Nam, ta có thể kể các cảng: Cái Lân (Quảng-Ninh) Cửa Ḷ (Nghệ An) Đà Nẵng, Qui Nhơn, Dung Quát (Quảng Ngăi)...

Nh́n xa về tương-lai, các cảng biển lớn nhất Việt-Nam sẽ phải xây-dựng ở miền Trung v́ khu-vực này có nhiều vịnh tốt, kín gió lại không bị phù-sa bồi lấp. Ưu-thế hơn tất cả các cảng khác là chúng nằm sát hải-lộ giao-thương. Trong khi các cảng của Vịnh Bắc-Việt như Hải Pḥng cách hải-lộ đó 18 giờ hải-hành hay lâu hơn nữa, các cảng miền Trung chỉ cách đó vài ba tiếng đồng-hồ. Đặc-biệt Vịnh Cam Ranh (1 giờ tàu biển là tới) được xếp vào loại một trong ba hải cảng có điều-kiện tự nhiên tốt nhất thế giới, với diện tích vùng vịnh kín tới 60 km2 và độ sâu trung b́nh 18 - 20m nước, xung quanh có núi bao bọc làm cho vùng biển luôn lặng gió.

 

2.10 - Hệ-thống Chuyển-vận Đường Sông

Theo tài-liệu nghiên-cứu đầy đủ chi-tiết nhất, Việt-Nam hiện có 2,360 con sông (+/- 10) với tổng-số chiều dài lên đến 41,900 km (+/- 100).[59]

Chuyển-vận đường sông Việt-Nam được xếp vào loại lớn nhất thế-giới. Hệ-thống dài khoảng 9,000 đến 10,000 km, kể cả các kênh rạch. Hoạt-động này phát-triển mạnh nhất ở đồng-bằng sông Hồng và sông Cửu-Long do mức nước đủ sâu để thuyền bè, canô và xà lan có thể đi lại quanh năm.[60].

Các luồng đường sông chính ở đồng-bằng sông Hồng thường bắt đầu từ cảng Hải-Pḥng về Hà Nội theo hai tuyến: Hải-Pḥng - Hà Nội qua sông Đuống, có sử-dụng nhiều nhánh của sông Thái B́nh dài 150 km, và Hải-Pḥng - Hà Nội theo sông Luộc qua Quư Cao, dài hơn tuyến trên 65 km nhưng dễ đi hơn v́ ít băi cạn. 

H́nh 33. Hệ-thống Đường Sông, Đường Bộ ở Miền Bắc VN

 

Ngoài ra, trục Cẩm Phả - Hạ Long, Phả Lại - Hà Bắc dài 459,5 km đóng vai tṛ quan-trọng trong việc vận-chuyển than lên Thái Nguyên và sắt theo hướng ngược lại. Nói chung tàu thuyền đều có thể ngược ḍng sông Hồng lên đến Việt Tŕ và xa hơn, hoặc theo sông Thao lên Yên Bái, hoặc theo sông Lô lên Đoan Hùng, theo sông Đà lên Ḥa B́nh. Ở ven biển có tuyến Quảng-Ninh - Móng-Cái.

Các cảng sông góp phần tích-cực vào sự phát-triển của các thành-phố hay thị xă. Các cảng chính là Hà Nội, Hải-Pḥng, Cống Câu (Hải-Hưng), Hồng Gai (Hạ-Long), Thái B́nh, Ninh B́nh, Nam Định, Hồng Vân (Hà Tây), Việt Tŕ, Phú Thọ và Ḥa B́nh.

Tổ-chức vận-tải trong đồng-bằng sông Hồng theo quy mô công-nghiệp đóng vai tṛ quan-trọng trong thời chiến với các xà lan có trọng tải 500-1000 tấn, di chuyển thành đoàn do các tàu đẩy. Gần đây vận-tải đường sông có phần bị coi nhẹ (trừ việc vận-chuyển than, vật-liệu xây-dựng và một số mặt hàng nặng), luồng lạch có đoạn bị ứ bùn do không được nạo vét thường xuyên. Các cảng sông, v́ vậy, làm việc không đạt công-suất đă thiết kế [61].

Cục Đường Sông cho biết: hiện nay mới có 11.400 km sông tàu thuyền đi lại được trong tổng số 41.900 km. Các cơ quan chức năng lại chỉ quản lí 800 km sông. Trên các tuyến đường thuỷ, t́nh trạng khai thác xô bồ, tuỳ tiện, dẫn tới không đảm bảo an toàn giao thông, phá vỡ môi trường sinh thái và mất trật tự an ninh xă hội. Ḍng sông bỗng trở thành "điểm nóng", cần được chính-quyền quan tâm cải-thiện.

 

 2.11 - Hải-Đảo Việt-Nam

Có nhiều điều lư-thú khi nghiên-cứu các đảo Việt-Nam. Giáo-sư Lê Bá Thảo đưa ra một số điểm đáng kể như sau đây:

Ven bờ biển nước ta có vô số đảo, rất nhiều đảo nhỏ diện-tích từ 0,5 km2, xuống đến 0,001 km2. Việc kiểm kê số lượng không dễ dàng, và do đó ta hiểu là tại sao lại có trường hợp không đồng-nhất về con số. Những công cuộc điều-tra mới nhất[62] cho thấy hệ-thống đảo ven bờ gồm có 2773 ḥn lớn nhỏ, diện-tích tổng cộng lến đến 1720 km, trong đó chỉ có 84 đảo có diện-tích từ 1 km trở lên (chiếm 3% tổng số) nhưng chúng chiếm đến 92,73% tổng diện-tích. Chỉ có 3 đảo có diện-tích trên 100 km và 24 đảo trên 10 km.

Vị-trí các đảo so với đất liền rất thay đổi: có đảo nằm gần sát bờ chỉ cách bởi một lạch triều như đảo Cái Bầu, nhưng cũng có một số đảo nằm cách bờ đến trên 100 km như Bạch-Long-Vĩ cách Hải-Pḥng 135 km. Xa hơn nữa là các đảo ngoài Hoàng-Sa và Trường-Sa.

Cũng như lănh-thổ trên đất liền, các đảo ven bờ của Việt-Nam nằm hoàn toàn trong ṿng đai nhiệt-đới ẩm gió mùa. Chế độ nhiệt của không khí và của nước biển quanh năm cao, lượng mưa hàng năm lớn.

Theo thống-kê mấy năm vừa qua, cả nước có 6 đảo lớn với số dân định-cư vượt quá 10 ngàn người. Vịnh Bắc-Việt chiếm 3 trong 6 đảo. Đó là các đảo Cái Bầu (trên 20,000 người), Cát Bà (trên 15,000 người và Cát Hải (trên 13,000 người), Các đảo kia, lớn nhất là Phú Quốc (trên 50,000 người), Phú Quư (khoảng 18,000 người) và Lư Sơn (trên 16,000 người).

Đảo có số dân khá nhiều là Cô Tô, chừng 2500 người. Đảo đang trong chương-tŕnh tái định-cư là Bạch-Long-Vĩ và Cồn Cỏ. Có đến hơn 1000 đảo hiện chưa có tên v́ kích-thước quá nhỏ và thường không có người cư-ngụ.

Các đảo có điều-kiện thuận-lợi nhất cho sự định-cư [63] thông-thường là các đảo (hay cụm đảo) có diện-tích lớn, có đất trồng, lớp phủ rừng và nước ngọt và tất nhiên có khả-năng có cảng cho tàu thuyền cập bến. Những đảo có vị-trí nằm cạnh các ngư trường lớn cũng lôi kéo các ngư-dân đến định-cư.

 

2.12 - Địa-chất Các Đảo ven biển Vịnh Bắc-Việt

Cũng theo Giáo-Sư Lê Bá Thảo về mặt phân bố, mật-độ các đảo cao nhất Việt-Nam nằm ở ven biển những tỉnh Quảng-Ninh và Hải-Pḥng: chúng chiếm đến 83,7% về số lượng và 48,9% về diện-tích toàn-thể các đảo Việt-Nam.

Theo website tự giới-thiệu của tỉnh Quảng-Ninh, Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa h́nh độc đáo. Hơn hai ngh́n ḥn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bane Sen, lại có đảo chỉ như một ḥn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng đại h́nh Karst bị nước bào ṃn tạo nên muôn ngh́n h́nh dáng bên ngoài và trong ḷng là những hang động kỳ thú. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những băi bồi phù sa c̣n những băi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành băi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vùng...)[64]

Các đảo trong từng vùng biển có đá cấu-tạo gần như cùng loại với các đồi núi nằm ven biển trên đất liền v́ trong thực-tế, chúng là phần ŕa của lục-địa bị nước biển tràn ngập từ giữa thời Plêistoxen cho đến nay. Ở Đông-Bắc vịnh Bắc Bộ, tương ứng với phần bắc tỉnh Quảng-Ninh (tỉnh Hải-Ninh cũ), các đảo quan-trọng là Cái Chiên, Vĩnh Thực, Cái Bầu, quần-đảo Cô Tô, Thanh Lam được cấu-tạo bằng đá trầm-tích và trầm-tích biến-chất. Trong khi đó, nhóm đảo thứ hai tại khu-vực các vịnh Bái-Tử-Long và Hạ-Long ở về phía Nam của tỉnh, được cấu-tạo bằng đá vôi.

 

 

H́nh 34. H́nh-ảnh Sinh-hoạt ở Đảo Cát Bà

 

 

H́nh 35. H́nh-ảnh thơ mộng của các đảo Hạ-Long qua nét vẽ của một ngướ Pháp cách nay hơn một thế-kỷ.

 

Các đảo và quần-đảo thuộc hai nhóm này tuy cùng nằm trong vùng biển phía bắc Vịnh Bắc-Việt, cùng chịu chung những tác nhân ngoại lực như nhau với các điều-kiện khí-hậu tương-tự; nhưng địa-h́nh của chúng lại khác nhau:

(1) Các đảo đá trầm-tích hoặc trầm-tích biến chất có địa-h́nh là những quả đồi với sườn dốc thoai thoải.

(2) Các đảo đá vôi có h́nh-thể hiểm trở hơn nhiều do quá tŕnh ḥa tan và gậm ṃn của nước. Thêm vào đó, lại có sự sụp đổ từ ngoài trên các sườn. Tính kỳ ảo của Vịnh Hạ-Long như là một kỳ quan của thế-giới, đă được UNESCO[65] công nhận, chính là phụ thuộc vào đặc-tính của núi đá vôi [66].

Các đảo ven bờ được cấu-tạo bởi vật-chất bở rời chỉ thấy ở các cửa sông, ở ŕa đồng-bằng sông Hồng[67] Đảo Đ́nh Vũ ở Hải-Pḥng là một thí-dụ. Bề mặt của các đảo này chỉ cao trên mặt nước biển khoảng 2-3m, bị chia cắt bởi các lạch triều và có h́nh dạng thay đổi tùy theo sự công phá của sóng biển.

Đảo Ḥn Mê (Tỉnh Gia, Thanh Hóa) có đỉnh cao 251 m sườn dốc hoặc rất dốc mặc dù như thường thấy ở miền nhiệt-đới, ngay ở chân sườn đổ xuống biển bao giờ cũng có một riềm đá vụn hoặc trầm-tích có bề mặt nằm ngang hoặc rất thoải bao bọc.

 

2.13 - Số lượng các Đảo Vịnh Bắc-Việt

Như đă được đề-cập ở đoạn trên, số đảo ven biển Quảng-Ninh và Hải-Pḥng chiếm tới 83.7% tổng-số đảo toàn-quốc. Nếu số lượng hải-đảo kiểm-kê năm 1995 trong đề-tài KT-03-12 được kể là chính xác, tổng số đảo Việt-Nam trong Vịnh Bắc-Việt gồm có:

- 2,321 đảo ngoài khơi Quảng-Ninh Hải-Pḥng.

- đảo Bạch-Long-Vĩ ở giữa Vịnh Bắc-Việt.

- hàng chục đảo cùng cồn cát ở ngoài khơi vùng châu-thổ các Sông Hồng, sông Thái-B́nh và phụ-lưu của nó. Các đảo này do phù-sa và ḍng nước sông, biển tạo thành; hôm nay hiện ra, ngày mai mất đi (phù-đảo). 

- ḥn Nẹ, ḥn Nghi Sơn và quần-đảo Ḥn Mê với các ḥn Vang, ḥn Vát, ḥn Bong, ḥn Gác, ḥn Đó ngoài khơi Thanh-Hóa.

- đảo Ḥn Mát và những ḥn đảo nhỏ hơn như Ḥn Niêu (Ḥn Ngư), Ḥn Tuần ngoài khơi Nghệ-An.

- đảo Cồn Cỏ ngoài khơi Quảng-Trị.

Cộng lại, số lượng đảo Vịnh Bắc-Việt phía Việt-Nam không dưới con số 2340 đảo lớn nhỏ[68]. Với một con số đảo quá nhiều như vậy, chúng tôi chỉ có thể lược-duyệt h́nh-thể một số đảo đặc-biệt quan-trọng ở đây mà thôi.

 

2.14 - Đảo Bạch Long Vi

Tọa-độ: 20 độ 08’ vĩ-độ Bắc, 107 độ 43’ kinh-độ Đông.

Đảo Bạch Long Vĩ nằm gần trung-tâm vịnh Bắc-Việt, cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải-Nam (Trung Hoa) khoảng 130 km, cách đảo Cát Bà khoảng 95 km và cách thành-phố Hải-Pḥng khoảng 13km về phía Đông Nam.

 

 

H́nh 36. Đảo Bạch Long Vĩ

 

Đảo Bạch Long Vĩ có chiều dài 4.5 km, chiều ngang nơi rộng nhất là 1.6 Km, diện-tích 250 ha (2.5km) với chứng 1,000 dân-cư. Điểm cao nhất của đảo là 62 m. Biên-độ thủy triều trong vùng biển này tăng đến mức tối-đa 3,76 m.

Đây là một khu bảo-tồn biển. Tổng diện-tích là 550 ha, trong đó diện-tích đảo nổi là 250 ha và diện-tích mặt biển là 300 ha[69], ấn-định vào năm 1995. Sau đó, Ngân-hàng Phát-triển Châu Á (Asian Development Bank, ADB 1999) đề-nghị tăng diện-tích lên 90,00 ha, trong đó diện-tích đảo nổi là 250 ha và diện-tích mặt biển là 89,750 ha.

Đảo Bạch Long Vĩ là một trong những vị-trí chiến-lược quan-trọng nhất của Miền Bắc-Việt-Nam. Đảo đứng đơn-độc, trong phạm-vi bán kính rộng tới 75 km không c̣n một ḥn đảo nào khác. Đảo được trang-bị radar viễn-thám, là nơi cặp bến sửa chữa cho các thuyền đánh cá xa bờ. Kể từ ngày 13-8-1999. một trạm viễn-thông qua vệ-tinh (VSAT) đă được thiết-lập để giúp cho việc thông-tin liên-lạc với Hải-Pḥng được dễ-dàng hơn[70].

 

 

Hinh 37. Cầu tàu đă được xây-cất tại đảo Bach-Long-Vĩ

 

2.15 - Đảo Trà Cổ và vùng Hải-biên

Phía Đông của Mũi đất Trà Cổ (Kinh-độ 108 độ 03 phút 18 giây) là hải-giới hiện nay của Việt-Nam và Trung-Hoa.

Trà Cổ trước đây là một ḥn đảo sát bờ biển Móng-Cái. Do tác-dụng của phù-sa và ḍng nước biển bồi đáp, eo biển hẹp dần rồi biến mất. Trà Cổ ngày nay đă trở thành một bán-đảo, có đường chạy dọc băi biển nối với thị-trấn Móng Cái.

 

 

H́nh 38. Cầu Biên-giới Bắc-Luân  

 

 

H́nh 39. Đầu thế-kỷ 20, Trà-Cổ là một ḥn đảo, nay hầu như đă dính với bờ 

 

Bán đảo Trà Cổ có chiều dài khoảng 16 km, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 2 ki–lô–mét. Bán đảo gồm có hai xă :Trà Cổ và B́nh Ngọc. Dải cát trắng mịn lộng gió này là một băi biển tuyệt đẹp, theo một số người có lẽ chỉ thua băi biển Song-Tử Tây ngoài Trường-Sa.

Thị xă Móng Cái nằm sát biên giới cách băi biển Trà Cổ 7 km, đối-diện với thị-trấn Đông-Hưng của Trung Hoa. Chiếc cấu Bắc Luân nối liền hai bên[71]

 

2.16 - Đảo Cồn Cỏ

Tọa-độ::17 độ 10’ vĩ-độ Bắc, 107 độ 20’ kinh-độ Đông

Đảo Cồn Cỏ cách bờ biển tỉnh Quảng Trị vào khoảng 25 km. Đảo gần tṛn, có mũi nhọn hướng Đông Bắc. Diện-tích 350 ha (3.5 km2). Cửa Vịnh Bắc-Việt được 2 chính-quyền Việt-nam và Trung-Hoa thoả-thuận đóng ở đây . Khoảng cách Cồn Cỏ đến Mũi Oanh Ca đo được 119 hải-lư (220 km).  

 

 

H́nh 40. H́nh-thể đảo Cồn Cỏ  [72]

 

Đảo Cồn Cỏ là một trong 16 khu bảo-tồn biển từ năm 1998. Năm 1999, việc đề xuất thành lập khu bảo-tồn biển đảo Cồn Cỏ lại được Ngân-hàng Phát-triển Châu Á (ADP 1999) nhắc lại trong kế-hoạch xây-dựng hệ thống khu bảo-tồn biển Việt Nam. Diện-tích khu bảo-tồn được đề-nghị là 2,490 ha, trong đó vùng biển có 2,140 ha và vùng đất liền trên đảo là 350 ha.

Đảo Cồn Cỏ có hai quả đồi thấp, cao tới 63 m và 37 m. Vùng ngập triều đặc trưng bởi băi cát hẹp, bị các mỏm đá chia cắt Vùng đất liền có các lớp bazan, bao phủ bởi xác san-hô và các trầm-tích xốp.Vùng nước biển xung quanh Đảo Cồn Cỏ phía bờ chỉ sâu tới 15-20 m, nhưng phía Đông, đáy biển sâu đến hơn 30 m.

 

2.17 - Đảo Hải-Nam

Chúng tôi dành mấy đoạn ngắn sau đây để nói vài điều tổng-quát liên-hệ đến Hải-Nam, đảo của Trung-Hoa nằm ở phía Đông Vịnh Bắc-Việt.

Hải-Nam là một tỉnh-đảo, dân-số 7,870,000 người (2001), diện-tích 33,940 km2 (13,100 sq mi), nằm cách bờ biển Lôi-Châu, Quảng-Đông bằng eo biển Quỳnh-Châu. Eo này rộng chừng 16 hải-lư (30 km). Hải-Khẩu (Haikou) là thủ-đô và thành-phố lớn nhất. Mặc-dù Trung-Hoa thường đưa ra những con số thống-kê lớn về dân Hán, nhưng thổ-dân sắc-tộc Lí (1,000,000 người, Miêu (50,000 người) và Hồi vẫn c̣n sinh-sống đông-đảo khắp đảo, cả trên vùng núi non.

Những dân bản-địa này c̣n giữ sắc-thái riêng, ít bị Tàu-hóa. Những khu-vực tự-trị nằm ở miền Trung và miền Nam của đảo, gồm có:

- 5 quận dành cho người Lí,

- 2 quận cho người Lí và Miêu sống chung với nhau

- 4 thị-trấn dành cho người Lí

- 1 thi-trấn cho người Lí và Miêu sống chung với nhau.

Người Hán thường thích sống tập-trung ở thành-thị, mật-độ cao tại các thi-trấn vùng Bắc và vùng duyên-hải miền Nam của đảo.

 

 2.18 - Ư-nghĩa Địa-danh

Cũng như nhân-danh, địa-danh mang ư-nghĩa chân-thực của vùng đất mà nó mang tên. Hải-Nam mang tên này v́ nó là hải-đảo nằm ở cực Nam nước Trung Hoa. Lại xem-xét bản-đồ Hải-Nam, người ta thấy tên Tian-Ya-Hai-Jiao (Thiên-Nhai Hải-Giác). Địa-danh này nằm gần thị-trấn Sanya có nghĩa là chân trời góc biển.[73]

Lănh-thổ và hải-phận Trung-Hoa rơ-ràng được xác-định giới-hạn ở đây là tận cùng phía Nam của đất nước họ.

 

H́nh 41. Bản-đồ đảo Hải-Nam. Lưu-ư hai địa-danh Đông-Phương (Dongfang) và Thiên-Nhai Hải-Giác (Tian-Ya-Hai-Jiao)

 

Sản-phẩm chính của đảo là cao-xu, hải-sản. Ngoài ra có gạo, đường, thuốc lá, cà-phê, trái cây. Sinh-hoạt mới nhất đang làm thay đổi bộ mặt Hải-Nam là kỹ-nghệ dầu khí. Những nhà máy, những đường ống dẫn khí đốt đă bao trùm khắp đảo. Sự xây-dựng cơ-sở này đi theo nhiều kế-hoạch bành-trướng hải-phận trong Vịnh Bắc-Việt và luôn cả chiến-lược lớn vùng Biển Đông.

 

H́nh 42. Cảnh núi non trên đảo Hải-Nam

 

Đối với người Việt-Nam chúng ta muốn t́m-hiểu đảo Hải-Nam, tài-liệu ngắn ngủi[74] sau đây được các hăng dầu lửa ghi-nhận thực-sự là kiến-thức quan-trọng: Hải-Nam là tỉnh nhỏ nhất của Trung-Hoa, nhưng sở-hữu tới 44.6% diện-tích của toàn-thể hải-phận nước này.

H́nh 43. Hệ-thống Khai-thác Dầu-khí của Trung-Hoa trong khu-vưc Hải-Nam. Lưu-ư vị-trí các mỏ khí đốt lớn hướng về phía Bắc-Việt / Hoàng-Sa.

 

Chúng tôi xin chép nguyên-văn bản tin đó trong phần phụ-chú (footnote) để độc-giả tiện truy-cứu[75].

 

2.19 - Những đảo khác của Trung-Hoa trong Vịnh Bắc-Việt

Ngoài Hải-Nam và những “phù-đảo” không có tính cách vững bền nằm gần những cửa sông, người ta chỉ thấy phía Trung-Hoa có hai đảo nữa trên bản-đồ là Vĩ-Châu và Xê-Giang trong Vịnh Bắc-Việt.

Đảo Vĩ-châu h́nh bầu dục gần như tṛn chiều dài chừng 11km, có một vịnh cặp tàu thuyền rất tốt ở phía Nam. Đảo Xê-Giang nhỏ hơn nhiều, gần như h́nh chữ nhật 3x4Km. Hai đảo này không có đặc-điểm kinh-tế ǵ quan-trọng, thường là trạm đừng chân của dân đánh cá Trung-Hoa. Đảo Vĩ-Châu nằm gần mũi đất Bắc-Hải (Quảng Tây), Xê-Giang (Xe-Yang) gần Lôi-Châu, Chúng cách bờ biển 25 hải-lư - Khoảng 45 Km. 

 

2.20 - Những cảng Trung-Hoa Vùng Vịnh Bắc-Việt.

            Hiện nay, Trung-Hoa đang cải-tiến các hải-cảng trong khu-vực Vịnh Bắc-Việt như hai cảng Pḥng-Thành, Bắc-Hải thuộc Quảng Tây và cảng Dương-Bộc thuộc Hải-Nam.

            Cảng Pḥng-Thành nằm về phía Tây của Vịnh Khâm-châu. Hàng hóa chính xuất nhập gồm có: ngũ cốc, phân bón, mía đường, sắt thép, xi-măng, gỗ, than đá , quặng mỏ, vật-dụng cho nông ngư-nghiệp.

            Cảng Bắc-Hải lớn hơn, cũng như cảng Pḥng-Thành là cửa ngơ chính của Khu Tư-Trị Chuang vùng Nam-Ninh mở ra biển. Hàng hóa chính xuất nhập gồm có: lúa gạo, trái cây, hải-sản, gỗ, phân bón, hàng gia-dụng, các loại pháo, pháo bông...

            Cảng Dương-Bộc nằm ở phía Tây đảo Hải-Nam, lúc trước đây là ngư-cảng, nay đang bành-trướng để trở thành một hải-cảng. Cho dù tiện-nghi như nước ngọt chưa được cung-cấp đầy đủ nhưng cảng đă bắt đầu tiếp-nhận các tàu dầu và tàu chở khí đốt cặp bến.

 

 

H́nh 44. Vị-trí những Hải-cảng Pḥng-Thành, Bắc-Hải, Dương-Bộc và đảo chính phía Trung-Cộng. Hải-Khẩu làmột cảng nữa của Trung-Hoa nằm xa hơn về phía eo biển Lôi-Châu.

 

H́nh 45. Sơ-đồ xây-dựng cảng Pḥng-Thành

 

 

H́nh  46. Sơ-đồ Cảng Bắc-Hải[76]

           

            Nói chung những cảng biển của Trung-Hoa chưa đạt tiêu-chuẩn của các thương-cảng lớn, nhưng đă dư thừa khả-năng yểm-trở kỹ-thuật hạm-đội đánh cá hùng-mạnh của họ. Trong tương-lai, những cảng biển này sẽ càng thêm quan-trọng v́ các hoạt-động đang gia-tăng của Trung-Hoa trên Biển Đông, đặc-biệt là trong Vịnh Bắc-Việt. Ưu-điểm của những cảng biển của hai tỉnh Quảng-Tây và Hải-Nam vượt trội các cảng của ta thuộc tỉnh Hải-Ninh v́ tầm nước ra vào sâu hơn, ít bị cát bùn bồi lấp và cũng kín gió hơn. Tuy nhiên, nhu-cầu phát-triển các cảng cũng lệ-thuộc vào t́nh-trạng phát-triển của vùng hậu-cảng. Trọng hiện-trạng, cảng Hải-Pḥng của Việt-Nam vẫn c̣n chiếm hàng đầu trong Vịnh Bắc-Việt.

 

 

H́nh 47. Bản-đồ hải-cảng Dương-Bộc với những tiện-nghi hải-cảng đang thành h́nh

 

2.21 - Vịnh Bắc-Việt, nơi “Đầu sóng Ngọn gió”

            Đi biển khi sóng to gió lớn, tàu thuyền mong vào được trong vịnh để neo bến nghỉ-ngơi. Có người tưởng Vịnh Bắc-Việt như một vùng kín gió v́ Vịnh không những nằm khuất sau đảo Hải-Nam lại c̣n được bao quanh bởi các tỉnh Quảng Đông, Quảng-Tây ở phía Bắc và một nửa lănh-thổ Việt-Nam về phía Tây và Tây-Nam. Thật ra đây là khu-vực “đầu sóng ngọn gió”.

Thoạt nh́n trên bản-đồ tỷ-lệ nhỏ, người ta thường không ư-thức rằng Vịnh Bắc-Việt bao trùm một không-gian rộng tới trên dưới 300km mỗi chiều, kích-thước này đủ lớn để vùng trung-tâm của nó không được bờ biển che-trở. Hơn thế nữa, hướng mở cửa của Vịnh lại quay đúng về hướng thổi tới của các trận băo nhiệt-đới là hướng Đông-Nam. Địa thế của Vịnh như vậy không khác ǵ một cái phễu hứng trọn những cơn thịnh-nộ của biển trời. Trung b́nh hàng năm Việt Nam chịu ảnh hưởng của từ 4 đến 6 cơn băo. Hơn một nửa số đó thổi vào Vịnh Bắc-Việt.

 

2.22 – Diễn-tiến Cơn Băo-tố

Băo-tố có mùa. Băo Biển Đông hay đại-phong (typhoon) là băo nhiệt-đới, thường xảy ra những lúc giao mùa, nhất là từ tháng 7 đến tháng 10. Băo giảm đi từ tháng 11 nhưng cũng vẫn c̣n đến tháng 12. Tuy vậy, vào giữa mùa gió Đông-Bắc, băo làm biển trở nên động dữ dội hơn và kéo dài trong nhiều ngày. Hải-hành trên Biển Đông thường nguy-hiểm khi gió mùa Đông-Băc thổi mạnh, sóng cao nhiều thước.

Sau khi thành-lập, băo thường di-chuyển hướng Tây, nhưng rồi chuyển dần lên hướng Đông-Bắc nên Nam-phần không mấy khi bị băo lớn tàn-phá. Có tới chừng 1 phần 3 các trận đại-phong đi từ Thái-b́nh-Dương thổi về, qua Trường-Sa và Hoàng-Sa, tiến vào bờ biển Trung-Việt và vịnh Bắc-phần.

Khi băo xuất-hiện, ta thấy các hiện-tượng như sau: Trời oi bức, khí áp xuống nhanh. Trên bầu trời xuất hiện những mây cao bay nhanh như bó lông (cirrus panachés.) Vài giờ sau bầu trời bị che phủ bởi một lớp mây rất mỏng (cirro status), mặt trời chung quanh có quầng, rồi dần dần bầu trời trắng nhạt. Sau đó đến lượt những mây thấp có h́nh vẩy cá (cirro cumulus.) Rồi đến một lớp mây đen, dày cao lối 3,000m (altostatus), tất cả bầu trời trở nên u ám; mưa bắt đầu rơi, gió thổi, khí áp xuống nhanh. Trần mây thấp dần xuống (50 - 100 mét), mây bay nhanh, gió thổi mạnh từng cơn, mưa nặng hạt, băo đă tới ...

Cường-độ gió băo thông-thường vào khoảng từ 50 gút đến 90 gút, đôi khi vượt quá 100 gút. Cơn băo kéo dài nhiều tiếng đồng-hồ. Khi sấm sét đă xuất hiện, gió yếu dần th́ có thể coi như cơn băo đă qua...

 

 

H́nh 48. Số lượng những trận băo mọi loại thổi vào Việt-Nam 53 năm (1945 -1998). Chia ra những tháng trong năm[77]

 

2.23 – Vùng Băo Lụt:

Băo và lụt là các thiên-tai lớn nhất đe dọa nước ta, nhất là ở miền Bắc và miền Trung Việt-Nam, tổn-thất nhân-mạng có thể đến những mức độ khủng khiếp.

Theo Giáo-sư Nguyễn-Gia-Phụng[78], lư do chính v́ vị-trí địa-lư đặc biệt của nước ta. Trước hết nước Việt nằm ở phía Đông Nam của đại-lục Âu Á. Điều đó có nghĩa là nằm ở phía Tây của Thái B́nh Dương. Hằng năm, đến mùa nóng khô, nhiệt-độ đại lục lên cao, tạo thành những vùng hạ áp, trong khi đó biển Thái B́nh mát, nhiệt-độ thấp. Không khí sẽ di chuyển từ biển vào đất liền. Ngược lại, vào mùa lạnh, nhiệt-độ đại lục thấp, nhiệt-độ đại dương ấm, áp suất không khí thấp trên mặt biển, gió sẽ từ đại lục ra đại dương. T́nh trạng nầy tạo thành gió mùa hằng năm ở khu vực Đông nam Á.

Thứ nh́, Việt Nam nằm ở vùng giữa hạ chí tuyến (23 độ 27 phút Bắc) và xích đạo (0 độ). Quanh năm, xích đạo nóng ấm, gió từ hạ chí tuyến thổi về xích đạo. Theo luật Coriolis, do việc quả đất tự chuyển động quanh một trục tưởng tượng từ Đông sang Tây, tất cả các động tử di chuyển trên quả đất đều bị lệch hướng đối với hướng ban đầu về phía tay mặt ở Bắc bán cầu, và phía tay trái ở nam bán cầu. Việt Nam nằm ở bắc bán cầu. Do đó, quanh năm, gió từ đại lục phía bắc thổi xuống hay từ hạ chí tuyến thổi đi, nghĩa là gió của cả hai mùa, đều bị lệch hướng về phía tay mặt, có nghĩa là đều chĩa vào Việt Nam. Khi gió di chuyển, gió mang theo mây và sẽ tạo mưa khi có những điều-kiện nhiệt-độ thuận tiện.

Hàng năm những trận băo biển và gió mùa Tây Nam đă gây nên những trận mưa lớn ở miền thượng du cũng như đồng bằng miền Bắc. Băo tố mang gió to làm sụp đổ nhà cửa, băo-tố cũng mang mưa lớn làm lụt lội, làm đất trùi… Ở Việt-Nam, người chết v́ lũ lụt trong quá khứ nhiều hơn tất cả các loại thiên-tai khác.

Tiến-sĩ Trần Tiễn Khanh và Nguyễn Khoa Diệu-Lê (10/2001) cho biết rằng nguyên nhân chính của lũ lụt ở Sông Hồng nói riêng và miền Bắc nói chung là những trận mưa lớn ở thượng lưu và vùng đồng bằng. Các nguyên nhân khác như nạn phá rừng chỉ có thể làm lũ lụt trầm trọng hơn mà thội. Những trận mưa lớn do các cơn băo biển Đông và gió mùa Tây Nam gây nên.

Khi bàn về lũ lụt ở miền Trung, hai tác-giả trên kết-luận rằng nguyên nhân chính là do những trận mưa lớn ở thượng lưu và vùng đồng bằng. Các nguyên nhân khác như nạn phá rừng làm lũ lụt trầm trọng hơn. Những trận mưa lớn do các cơn băo biển Đông và gió mùa Đông Bắc gây nên.[79] Ngoài ra, các sông ng̣i ở miền Trung không có hệ thống đê để ngăn lũ. Miền Trung cũng không có các hồ chứa nước lớn ở vùng thượng lưu để giảm thiểu lũ lụt ở vùng đồng bằng. Các khu đông dân cư ở hai bên bờ sông đành chịu ngập tràn mỗi khi có mưa to.

Trong thời-gian-qua, những dân-cư mới được đưa đến định-cư thường chịu thiệt-hại nhân-mạng hơn người địa-phương v́ họ không có đủ kinh-nghiệm đề-pḥng thiên-tai về băo-lụt

 

H́nh 49. Đường di-chuyển tiêu-biểu của một trận băo thổi vào Vịnh Bắc-Việt, ghi nhận bởi Đài Khí-Tượng Hồng Kông.

 

2.24 - Những hiện-tượng thiên-nhiên khác.

Ngoài băo-táp là thiên-tai khủng-khiếp nhất, các vùng đất Đông-Nam-Á nằm ngoài đại-dương c̣n trải qua một số các thiên-tai khác như, động đất, núi lửa, đất trùi, sóng thần v.v... May mắn cho dân-cư Việt-Nam sống cạnh vùng vịnh Bắc-Việt nông cạn không gặp nhưng tai-nạn này.

Nói riêng về động đất, thỉnh thoảng có một vài trận với cường độ vừa phải đă xảy ra, nhưng hầu như chưa gây thiệt hại nào đáng kể. Tuy vậy người dân thủ-đô Hà-Nội, v́ nằm trên một đường gấp của địa-chất, cũng nên lưu-tâm đến kiến-trúc nhà cửa để khi địa-chấn xảy ra, đỡ bị thiệt-hại. Trong hai trận động đất gần đây, ngoài một lần ở Lai-Châu th́ có một lần nữa đă xảy ra ngoài Vịnh Bắc-Việt, trong vùng bờ biển giữa Quảng Tây và Hải-Nam, cường-độ lên tới 6.1 trên địa-chấn-kế Richter. Hàng trăm người bị thương-tích, nhưng may mắn không có ai thiệt-mạng.

Trở về quá-khứ người ta thấy Bắc-Việt chỉ bị những lần động đất nhẹ ghi trong sử sách. C̣n đảo Hải-Nam, nền đất tương-đối cũng bền vững. Địa-chấn lớn nhất trong cận-đại xảy ra năm 1605 với cường độ 8.0. Phía Đông Hải-Nam có thể họa hoằn bị ảnh-hưởng của sóng thần tàn-phá v́ quay ra phía biển sâu. Trung-b́nh đảo này chịu đựng 6 cơn băo theo thống-kê 50 năm qua, tương-đương như Viêt-Nam.

 

2.25 – Thủy-triều Vịnh Bắc-Việt

Thủy-triều trong vùng Biển Đông cũng như nhiều nơi khác trên thế-giới, rất phức-tạp. Có sự biểu-hiện đồng- thời của 4 loại thủy-triều khác nhau trên những đoạn bờ biển khác nhau của Việt-nam như sau.

- Chế-độ nhật-triều: Quan-sát thấy rơ nhất ở đoàn từ Ḥn Gai về đến Đồ Sơn. Càng lên phía bắc cũng như càng xuống phía nam, thủy-triều càng giảm tính thuần nhất .

- Nhật triều không đều: Từ nam Đồ Sơn đến nam Thanh Hóa, nếu nhật triều c̣n chiếm 2/3 số ngày trong tháng th́ ở ven biển Nghệ Tĩnh, số ngày đó chỉ c̣n chiếm già nửa tháng, và như vậy là đă xuất hiện nhật triều không đều.

- Chế độ bán nhật triều: Đoạn Quảng B́nh - Quảng Trị đă thấy có chế độ bán nhật triều không đều. Riêng ở bờ biển Thừa Thiên, bán nhật triều khá đều và là đoạn duy nhất ở Việt Nam có chế độ ấy.

- Tính chất bán nhật triều lại chuyển dần sang nhật triều không đều: Từ bờ biển Quảng Nam xuống đến bắc Nam-phần. Từ đó trở đi đến mũi Cà Mau, chế bán nhật triều lại trở nên rơ rệt nhưng ở vịnh Thái Lan th́ đă có nhật triều không đều và đều.   Do ảnh hưởng của địa thế, từ vịnh Bắc phần xuống tới Phan Thiết, thủy triều có biên độ một thước rưỡi và mỗi ngày lên xuống một lần. Từ Vũng Tàu xuống tới Mũi Cà Mau, thủy triều lên xuống mỗi ngày hai lần và có biên độ trung b́nh gần hai thước.

            Đồ-Sơn[80] là một bến quy-chiếu chính trong bảng Tide Table. Người ta dùng các yếu-tố thủy-triều Đồ-Sơn để điều-chỉnh lại và tính toán ra cao-độ và giờ giấc thủy-triều các bến dọc theo Vịnh Bắc Việt, trải dài từ đảo Cái Bầu, Hải-Pḥng, Ḥn Me đến cửa Nhật-Lệ và ra ngoài xa đến đảo Bạch-long-Vĩ. Thủy-triều này là loại nhật-triều hay c̣n gọi là toàn-nhật (diurnal.).

Tại duyên-hải Quảng Ninh, nhờ lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Việt. Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển h́nh, biên độ tới 3-4m. Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều những tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường. Trong vịnh Bắc Bộ có ḍng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa Đông Bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta. Nhiệt độ có khi xuống tới 13oC.[81]

 

 

H́nh 50. Một đường biểu-diễn cao độ của thủy-triều trong một tháng.

 

2.26 - Hang Động Quanh Vịnh Bắc-Việt

            Chương Địa-Lư Thiên-nhiên này chấm dứt bằng một đoạn mô-tả một đặc-điểm thiên-nhiên đầy màu sắc nữa của vùng đất bao quanh Vịnh Bắc-Việt:.hang động.

            Người ta thấy ở miền Bắc Việt-Nam hàng ngàn hang động nổi tiếng từ thời thượng-cổ như: Hương Tích, Bích động, các động Thủy Liêm, Hoàng Thiên, Giao Long, Tam Thanh, Huyền Khung, Kỳ Duyên... Những Nam Thiên đệ nhất động, Nam Thiên đệ nhị động v.v… đều nằm quanh vùng Vịnh Bắc-Viêt. Từ Thừa-thiên đi vào Nam, xứ ta tuy cũng nhiều đồi núi nhưng hang động thật sự hiếm hoi[82].

            Với người thường, hang-động  được hiểu là những kỳ-quan mỹ-thuật của tạo-hóa. Với những nhà khảo-cổ khao-khát t́m-hiểu, đó là các kho-tàng mang nhiều bí-mật quá-khứ. Họ  tin-tưởng vào cơ-hội được nh́n thấy những h́nh-ảnh ngày khởi-sự của thế-giới loài người và của cả thời khai-thiên lập-địa.

Xa xôi như tại Sơn La, những nhà thám-hiểm người Bỉ đang lập báo-cáo, sắp hoàn-tất về 22 hang động (1993-2003) với chiều dài tổng-cộng vượt quá 10km. Những Hang Dơi 1 (1435m), Hang Rắn (1717m), Nam Khum (1323m), Thi Dơi (1551m) là những hàng động tương-đối ngang bằng, c̣n Hang Bà Hoàng (Queen’s Cave) đặc-biệt rất sâu (-151m).

            Vùng gần biền, nguyên khu cố-đô Hoa-Lư Ninh-B́nh, thống-kê đă ghi-nhận 32 hang động cả nổi, cả ngầm dưới ḷng đất. Động Trăng Khuyết, động Con Moong, động Pḥ Mă, động Người Xưa... mỗi động có vẻ đẹp kỳ thú riêng. Những hang ở Tam Cốc là Hang Cả (Big Cave), Hang Hai (Second Cave) và Hang Ba (Third Cave) cũng như nhiều hang khác chứng tỏ toàn vùng đă từng nằm sâu dưới biển thời xa xưa. Đăc-biệt tại hang Con Moong trong rừng Cúc Phương năm 1976, Giáo-Sư Phạm Huy Thông đă t́m ra mắt xích nối những sinh-hoạt của tiền-nhân giữa hai thời-đại Đá Cũ và Đá Mới.  Nhiều cổ-vật như các cỗ quan-tài và dụng-cụ đồ đá có niên-đại từ 7,000 to 10,000 năm được t́m thấy[83].

Ngoài biển trong Vịnh Bắc-Việt, khu Hạ Long có trên 300 hang động. Với số lượng lớn, hang động Hạ-Long có trăm h́nh, ngh́n vẻ, muôn màu sắc. Đến nay qua 5 năm tu bổ (1994-1999), du-khách có thể tới thăm 7 hang đẹp và tiêu-biẻu nhất là: Bồ Nâu, Đầu Gỗ, Sửng Sốt, Thiên Cung, Mê Cung, Tam Cung, Trinh Nữ. 

            Chúng tôi không thể nói hết mọi chuyện hang-động quanh Vịnh Bắc-Việt. Vậy xin mời độc-giả xem những cuốn sách đặc-biệt nói riêng về hang động Việt-Nam. Sau đây là một trong những lời mở đầu, giới-thiệu “hấp-dẫn”:

Nguyên-do thiên-nhiên tạo-dựng đồi núi, hang động thật là kỳ-bí.  "Thế gian biến cải, vũng nên đồi!”, Trái Đất cựa ḿnh, xô đẩy những vùng đất mênh mông "lang  thang trên đại dương, để rồi một ngày nào đó khoảng nhiều trăm triệu năm trước, những cuộc "bang giao " kỳ diệu bằng sự "va đập" mang tính “hôn phối" của các bộ phận trong vỏ thạch quyển làm nảy sinh nhiều rặng núi thiêng liêng. Người ta c̣n nghĩ rằng ḷng đất vận động, mặt đất "thở" cũng tạo cho nhiều dăy núi được trồi dần lên từ ḷng biển... Đó là dăy Hy Mă Lạp Sơn (Hymalaya) quanh năm tuyết phủ, là dăy Trường Sơn dọc dài theo đất nước Việt Nam. Những ngọn núi lô xô như tiếng “thầm th́" của vũ trụ gọi tầng cao đổ xuống những cơn mưa, tạo nên các ḍng sông văn minh tràn vào cơi thế. Từ đó muôn loài nảy sinh và loài người với tư cách "nhân loại trung tâm” đă xác nhận về sự tồn tại của vũ trụ và mối t́nh thần thánh của trời cha đất mẹ. T́nh của trời với những giọt mưa lặng lẽ len lỏi theo ghềnh đá, thấm vào ḷng núi... để rồi "tí tách thời gian rơi" được tính bằng nhiều triệu năm mà theo ḍng trôi chảy tạo thành hang động cùng vẻ đẹp huyền thoại của nhũ đá.”[84]

 


Chương 3

Địa-Lư Nhân-Văn:

Văn-minh và Sinh-hoạt

 

3.1 – Tính-cách Bản-địa của dân Việt-Nam

            Thế-giới ngày nay nghĩ rằng Việt-Nam, hay lớn hơn chút nữa: Đông-Dương là sản-phẩm của sợ giao-tiếp giữa hai thứ văn-hoá lớn Trung-Hoa và Ấn-Độ. Tuy vậy hai nền văn-hoá này chỉ mới xâm-nhập quê-hương ta, khi đó chỉ bao quanh Vịnh Bắc-Việt, chừng hơn 2,000 năm trở lại đây. Nếu đem so-sánh với số tuổi của các nền văn-minh "nước" Hoà-B́nh/ Đông-Sơn khởi-sự từ mười ngàn năm về trước th́ văn-minh của cả hai nơi Tàu và Ấn đều trễ hơn rất nhiều.

            William Meacham cho rằng vào thời Băng-Đá, tức hơn một chục ngàn năm trước đây đă có dân cư-trú dọc bờ biển Đông-Á, vùng Nanhailand, Sundaland. Nay chỗ đó là Biển Đông. Họ là tiền-nhân giống Việt thích-nghi đặc-biệt với biển, hồ, sông, nước sau này. Giống dân bản-địa này gặp khi mực nước biển dâng lên làm ngập lụt nơi cư-trú, đă phải chạy theo các ḍng sông di-chuyển lên các vùng cao trong nội-địa. Lư-thuyết-gia William Meacham đă đưa ra h́nh-ảnh khá chi-tiết về sinh-hoạt đặc-thù hàng-hải của dân Việt trong bài "Origins and Development of the Yüeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia"[85]

C̣n người Tàu xuất-hiện ở Đông-Á rất trễ. Trong giai-đoạn đầu mới lập-quốc qua các đời Đường Ngu, Hạ; lănh-thổ Trung-Hoa nằm sát nguồn sông Hoàng-hà, c̣n rất nhỏ hẹp. Cho đến đời nhà Thương (1766-1050 Trước Tây-Lịch) nước Tàu tuy có mở lớn hơn nhưng cũng chỉ vào khoảng tối-đa mỗi chiều 400km x 300km, tức vài ba trăm dặm mỗi-chiều.[86] Cuốn sách “Chine Esprit et Société” của Speiser nghiên-cứu sự việc này. John King Fairbank cung cấp một bản-đồ, ước-lượng lănh-thổ đó vào khoảng 10, 000 km2.

H́nh 51. Địa-bàn sinh sống của các sắc dân vùng Hoa-Nam theo sử-liệu Trung-Hoa. Người Việt đông-đảo nhất, chiếm địa-bàn rộng răi, ph́-nhiêu nhất. (Bản-đồ Wiens[87] & Bản-đồ Fairbank[88])

 

Nước Tàu hồi đó ở xa với duyên-hải và người dân Trung-Hoa c̣n rất lạ lùng với biển cả. Cũng vào thời này, người Việt tuy chưa tạo được h́nh-thức quốc-gia chặt chẽ nhưng có lẽ đông đảo hơn người Tàu rất nhiều và đất đai họ chiếm ngự nhất-định bao-la rộng lớn, ít nhất cũng lớn gấp hàng chục lần so với nước Tàu nguyên-thủy.

 

3.2 - Những Sinh-hoạt khi Biển tiến.

            Trở lại với sinh-hoạt tiền-nhân lúc nước Biển Đông dâng lên làm ngập thềm lục địa. Họ đă phải dần dà, lần lượt di cư hoặc t́m cách lánh biển tiến. Theo Stephen Oppenheimer nói trong cuốn sách Eden In The East [89], có người lùi dần vào phía đất cao trong lục địa, có người đóng tàu đi biển, người ở lại th́ phải cất nhà sàn. Có thể một số nhỏ đă vượt biển, nhưng số đông chọn giải pháp đơn giản đối với họ là tiến vào chỗ đất liền gần nhất ; đối với cư dân vịnh Hạ Long, đó là vùng bờ biển Nam Bắc phần và Bắc Trung phần Việt Nam. Chủ nhân các văn hoá ven biển như Đa Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró, và cả Bàu Dủ, Sa Huỳnh do đó đều là những người Nam Đảo tị nạn biển tiến.

Khi duyệt sách trên, Ông Nguyễn Quang Trọng kể tiếp như sau: Riêng dân sống trên thềm lục địa biển vùng Đông Nam Trung Hoa, một số lùi vào phía Hong Kong trong lục địa, một số lên chỗ cao bên ngoài là đảo Đài Loan. Di tích xưa ở  Dapengeng bắc Đài Loan có gốm hoa văn thừng và hoa văn chải bằng "lược", cùng loại với nhiều di tích trên bờ biển Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam, và cư dân nơi ấy cũng ăn ṣ nhiều, cũng dùng chày đập vỏ cây. Ngựi sống trên lục địa này sau đó bị Hán hoá. Xem qua di tích khảo cổ, tại Đài Loan ngoài các di tích, thổ dân trên núi c̣n giữ tiếng Nam Đảo và một số phong tục đến bây giờ (thí dụ ăn trầu). Những di tích nầy được Trung Hoa xem như di tích của người "Yue"[90] (Việt) cổ.

Ngày nay các nhà khảo cổ đều đồng ư là cư dân nam Trung Hoa cổ, và thổ dân chưa bị lai hoàn toàn, không thuộc chủng tộc Hán. Cư dân vùng cực nam Trung Hoa (Quảng Đông và QuảngTây, Vân Nam, Quế Lâm) và cực bắc Việt Nam nói những thứ tiếng thuộc nhiều nhánh khác nhau của ngôn ngữ gốc Austric như Môn, Thái, Kadai, Yao, Miêu.[91]

Giúp cho phần tŕnh-bày được rơ ràng, Ông Nguyễn Quang Trọng c̣n cung-cấp một tấm bản-đồ chỉ những hướng đi của dân Nam-đảo.

Dưới đây là bản đồ và chú thích của tác-giả:

Bản đồ vùng Đông Nam Á lục địa, từ Nam Trung Hoa đến Trung Việt Nam. Bờ biển phía Đông (đường liên tục __ ) được thềm lục địa (độ sâu dưới 100 m, đường vẽ- - -) bọc bên ngoài đến tận đảo Đài Loan và Hải Nam. Những mũi tên chỉ hướng đi của dân nói tiếng Nam Đảo từ ngoài thềm lục địa di tản vào đất liền dọc bờ biển Bắc Việt khi vùng vịnh Hạ Long bị biển ngập.

 

 

H́nh 52. Địa điểm di tích các nền văn hóa:

1- Soi Nhụ; 2- Hạ Long; 3- Đa Bút; 4- Quỳnh Văn; 5- Bàu Tró; 6- Sa Huỳnh; 7- Hong Kong (cửa sông Châu giang); 8- Dapengeng; HB: Hoà B́nh.

2- Các di tích dọc sông Dương Tử: a- Sanxingdui, b- Pengtou; c- Diantonghuan; d- Hemudu.

 

            Là một nhà nghiên-cứu được biết nhiều trên mạng điện-toán, Ông Nguyễn-Văn-Tuấn đặc-biệt chỉ cho thấy nền-tảng vững chắc của những thuyết di-dân từ Đông-Nam-Á lên phía Trung-Hoa. Ông viết:

Mới đây thuyết Bắc-tiến c̣n có căn cứ khoa học vững vàng (dù lúc viết sách, ông Oppenheimer không biết đến), đó là: trong một bài báo khoa học quan trọng được công bố trên Tạp chí của Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Mỹ (một tạp chí khoa học rất uy tín trên thế giới) , một nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Texas (Mỹ) và Viện Nghiên cứu Di truyền học[92] Trung Quốc cho thấy nguồn gốc của người Trung Hoa (và cả người Đông Á) rất có thể là do người từ Đông Nam Á di dân lên [11], chứ không phải ở Bắc di dân xuống Nam! Như vậy, cho rằng dân tộc Việt là xuất phát phát từ người Trung Quốc có thể là một ngộ nhận. Phải hiểu ngược lại th́ mới đúng![93]

 

3.3 - Liên-hệ Tŕnh-độ Văn-minh và Dân-số Bắc-Việt

            Buckminster Fuller, một nhà Toán-học và Địa-Lư, tác gỉả nhiều tấm bản-đồ “đồng-nhất tỷ-lệ”Dymaxion World Maps[94], tin rằng có thể t́m ra nguồn-gốc các nền văn-minh v́ sự liên-hệ đồng-thuận giữa tŕnh-độ văn-hóa, di-dân và mật-độ nhân-số[95]. Ông khảo-sát địa-lư thế-giới và đưa ra giả-thuyết là vùng duyên-hải Đông và Nam-Á với dân-số đậm đăc đă khởi-nguyên những nền văn-minh đầu-tiên của nhân-loại.

 

 

H́nh 53. Duyên-hải Đông và Nam-Á về diện-tích chỉ chiếm 5% địa-cầu nhưng có tới 54% nhân-loại (Buckminster Fuller’s Dymaxion World Map) - Lưu-ư địa-bàn dân Bách-Việt thời xưa chiếm tỷ-lệ lớn trong đó.

 

Địa-bàn dân Bách-Việt thời cổ không những bao bọc tới gần 40 phần trăm vùng "bờ nước châu Á" mà lại chiếm trọn khu-vực thuận-hảo nhất cho sự sinh-hoạt. Nếu thuyết Fuller chính-xác, nó cũng đưa đến các hệ-quả hiển-nhiên như sau:

- Bách-Việt một chủng-loại tương-đối đồng nhất có thể cũng là chủng đông đảo nhất nhân-loại trong các thiên-kỷ thứ 3 hay thứ 4 TTL. Ước-tính theo với tỷ-lệ của Fuller đưa ra, Việt-chủng có thể chiếm đến khoảng 15-20% nhân-số thế-giới. Hỗ-trợ cho thuyết này, thống-kê thời nhà Hán cho thấy đă có cả triệu người, chỉ nguyên tại châu-thổ sông Hồng bao quanh Vịnh Bắc-Việt (lúc đó c̣n hẹp) vào đầu công-nguyên.

- Vịnh Bắc-Việt và rộng hơn, Biển Đông của Việt-Nam là chiếc động-cơ một thời đă đẩy đưa cái nôi văn-minh loài người.

- Giống Việt có lẽ nắm vai tṛ độc-bá hàng-hải. Căn-cứ trên sử-liệu thời-kỳ đó người Á-Rập và Ấn-Độ chưa xuất-hiện trên biển.

            Hỗ-trợ cho thuyết này là

- Thuyết của Paul Rivet về ngôn-ngữ Đông-Nam-Á (mà nhóm quan-trọng nhất là Mon-Khmer/ Việt-Nam) đă được truyền-bá đi bằng đường hàng-hải đến Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-Hải, Phi-Châu và Mỹ-Châu".?

 - Thuyết Ronald Provencher phỏng-đoán loài người đă xuất-hiện sinh sống tại Đông-Nam-Á từ 2 triệu năm trước đây.[96]

 

3.4 - Ư-Kiến Ông Nhượng Tống

            Ông Nhượng-Tông, khi dịch cuốn sách "Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư Ngoại-kỷ" của Ngô-Sĩ-Liên và các Sử-thần đời Lê ra quốc-ngữ năm 1944, đă nhận-định rằng người Việt-Nam là giống dân bản-địa Bách-Việt về miền Biển. Lư-luận của học-giả này rất vững-chắc. Ông viết như sau:..

Dân Bách-Việt chia ở hai miền; miền núi và miền biển. Trong đám dân miền biển có nước Việt đă từng diệt nước Ngô ở thời Xuân-Thu. Quốc-gia thứ hai được tổ-chức do dân miền núi là nước Nam-Chiếu. Mạnh-Hoạch, người đánh nhau với Khổng-Minh, chính là vị anh-hùng nước này. Một quốc-gia thứ ba nữa thành-lập, đó là nước Việt-Nam chúng ta. Trong ba nước ấy th́ chỉ có nước ta c̣n đến ngày nay. Nước Việt, nước Nam-Chiếu đă lần lượt bị người Tàu chiếm-lĩnh và đồng-hoá.

Nói tóm lại, giống người Việt-Nam chúng ta ngày nay là giống thuộc ḍng Bách-Việt về miền Biển và vẫn ở đất này.[97]

 

H́nh 54. Một kiểu vẽ trang-phục người nước Việt thuộc giới quư-tộc thời Xuân-Thu

  

3.5 - Nơi khai-sinh nền Văn-Minh Nước và Văn-minh Thực-Vật

            Đất nước chúng ta nằm trong vùng nhiệt-đới gió mùa. Có nhiều ư-kiến khác nhau về ảnh-hưởng vị-trí đối với tŕnh-độ sinh-hoạt của dân ta.

            Một số nhà địa-lư và nhân-chủng-học đă cho rằng nền Văn-minh Việt-Nam đặt trên vị-trí "b́nh-nguyên nhiệt-đới"[98] Tuy vậy, văn-minh của chúng ta không hoàn-toàn mang tính-cách của một b́nh-nguyên nhiệt-đới v́ các lư-do như sau:

-Về vị-trí, lănh-thổ Việt-Nam không nằm sâu trong nội-địa mà lại nằm cạnh Biển Đông. Việt-Nam có lẽ là quốc-gia độc-nhất trong đất liền nhiệt-đới mà một phần duyên-hải lại mang tính-chất riêng-biệt của hải-đảo. Linda Norene Shaffer cho rằng trải dài suốt mấy trăm hải-lư, bờ biển lồi lơm Trung-Việt có đặc-tính rơ rệt của hải-đảo nhiều hơn các đặc-tính thuộc về lục-địa.[99]

-Về văn-hoá, người Việt-Nam hướng đến các hoạt-động về nông-nghiệp và hàng-hải. Dân ta không nhận ảnh-hưởng từ một nền văn-minh thạch đá nào như các dân-tộc khác trên những b́nh-nguyên nhiệt-đới như Ai-cập, Mễ-Tây-Cơ v.v...

Mặc dù tiến-bộ sớm nhất Đông-Nam-Á, người Việt-Nam không bao giờ theo đuổi chiều hướng xây cất đá khối nặng nề như các dân-tộc láng giềng như Nam-Dương, Khmer, Lào... 

            Học-giả Sumet Jumsai đă dùng ư-kiến của một học-giả đầy uy-tín như Buckminster Fuller để viết phần kết-luận cho quyển sách khá nổi tiếng của ông, cuốn "Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific"[100]: Buckminster Fuller đă bị thuyết-phục và mong rằng v́ sự sống c̣n của nhân-loại trong tương-lai, con người nên noi theo chân-lư "nước" đó mà tiết-kiệm vật-liệu, năng-lượng v.v... (Nguyên-văn: He (Fuller) was convinced that future worlds will survive only if humans create more by using less-less material, less weight, less enegy, etc.)

            V́ những lư-do hiển-nhiên như vậy, các nhà khảo-cổ như Carl Sauer, Solheim đă tin-tưởng Đông-Nam-Á là nơi thuận-tiện nhất để con người có thể dễ-dàng chuyển-biến cây rừng cỏ dại thành rau trái trồng trọt được trong vườn. Chỉ nhờ những sự thuần-hoá đó, nhân-loại mới sản-xuất thêm nhiều thực-phẩm. V́ không c̣n phải nay đây mai đó, tốn kém quá nhiều thời-giờ để gom nhặt thực-phẩm một cách khó khăn, tiền-nhân bắt đầu định-cư lại. Cùng với nền văn-minh hàng-hải, một nền văn-minh thực-vật đă xuất-hiện rất sớm sủa.

            Lawrence J. Ma thuộc University of Akron nghĩ rằng giống người Homo-Sapien xuất-hiện rất sớm tại Đông-Nam-Á, sau này là tiền-nhân của chủng-loại Austroloid. Giáo-Sư Ma ước-lượng thổ-dân vùng này khởi sự gia-súc-hoá loài vật và trồng trọt từ 15,000 trước đây, tức là sớm sủa hơn vùng Tây-Nam Ấ-Châu (hay Bán-nguyệt Ph́-nhiêu) tới 5,000 năm[101].

            Nước Việt-Nam nằm trên một bán-đảo có nhiều vùng châu-thổ rất thấp ở về phía cực Đông Nam của lục-địa Á-Châu. Quanh năm khí trời ấm áp, nhiệt-độ tuy cao nhưng đều đều ít thay đổi. Ánh nắng mặt trời chan-hoà, vũ-độ thường-niên rất cao và bầu trời ít khi u-ám. Hai mùa gió Đông-Bắc, Tây-Nam đối-nghịch đem theo hai mùa mưa nắng rơ rệt. Trên có rừng ngăn chặn lối đi, dưới có biển mở rộng đường qua nhiều xứ sở. Địa-thế và môi-trường như vậy được kể là độc nhất, không có vùng đất nào trên thế-giới tương-tự như vậy.

 

3.6 - Giới-hạn của Giả-thuyết

            Chúng ta đă duyệt qua một số giả-thuyết về “địa-lư nhân-văn cổ-thời” để thấy các khía-cạnh sinh-hoạt khác nhau về văn-hóa thời cổ quanh vịnh Bắc-Việt. Lư-thuyết nào cũng chỉ tương-đối, có thể chính-xác hay không, bị phủ-nhận hay được công-nhận, lâu hay mau là tùy theo cái gọng ḱm nghiệt-ngă của thời-gian.

            Dù sao chăng nữa, trong một nhận-định chắc-chắn nhất chúng ta đồng-ư với hai Ông Nguyễn Quang Trọng và Tạ Chi Đại-Trường mà nhận rằng:  “… quả là liều mạng khi xem "Đông Nam Á là một trung tâm văn hoá lớn ngay từ thời cổ đại, trong đó Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hoá khu vực", như một học giả trong nước đă viết”[102].

 

3.7 - Khoa khảo-cổ với Văn-minh vùng Duyên-hải Bắc-Việt 

Thời tiền-sử Việt-Nam thường được chia ra các thời-đại đồ đá (mới, cũ) và đồ kim-khí (đồng, sắt). Một bài văn tiêu-biểu[103] về khảo-cổ-học như sau đây:

Thời đồ đá cũ

Con người đă xuất hiện khá sớm trên đất Việt-Nam. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học đă t́m thấy dấu vết của người vượn Homo erectus trong một số hang động ở Lạng Sơn và Nghệ An. Đặc biệt là ở hậu kỳ thời đá cũ (văn-hóa Sơn Vi cách ngày nay 10,000 - 23,000 năm), con người đă phân bố khá rộng và khá đông trên đất Việt-Nam. Đến văn-hoá Hoà B́nh - Bắc Sơn (khoảng 6,000 - 10,000 năm), con người đă biết dùng công-cụ cuội được ghè đẽo một mặt, bắt đầu biết mài ŕu đá, làm đồ gốm và có khả-năng đă biết đến trồng trọt sơ khai.

Thời đồ đá mới

Trong giai-đoạn này trên đất Việt-Nam, đă xuất hiện những nhóm cư dân tiền sử có đặc trưng văn-hoá là thuộc thời đại đá mới... Con người trong giai-đoạn này đă biết dùng những chiếc ŕu đá được mài nhẵn hoàn toàn, những chiếc ṿng tay đá được khoan rất khéo, và những đồ gốm có hoa-văn rất đẹp.

Thời đồ đồng

Con người đă biết đúc các công cụ, vũ khí và đồ trang-sức bằng đồng thau. Họ đă biết trồng lúa và chăn nuôi một số gia súc như trâu, ḅ, lợn, gà. Có ba nhóm văn-hoá phân bố ở ba khu-vực. Nhóm thứ nhất (văn-hoá Tiền Đông Sơn) phân bố trong các lưu vực sông Hồng, sông Mă và sông Cả. Nhóm thứ hai (văn-hoá Tiền Sa Huỳnh) phân bố ở vùng Nam Trung Bộ. Và nhóm thứ ba, phân bố trong lưu vực sông Đồng Nai ở miền Đông Nam Bộ.

ở miền Bắc-Việt-Nam, các văn-hoá tiền Tiền Đông Sơn tương ứng với giai-đoạn đầu của thời-kỳ Hùng Vương.

Thời đồ sắt

Các nhóm văn-hoá Tiền Đông Sơn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đă hội tụ lại thành một văn-hoá thống-nhất, đó là văn-hoá Đông Sơn, thuộc thời đại sắt sớm v́ một số công-cụ bằng sắt đă xuất hiện. Nhưng các chế phẩm bằng đồng thau tinh xảo là đặc trưng của văn-hoá này. Hiện-vật tiêu biểu là những chiếc trống đồng lớn có hoa-văn trang trí đẹp.

 

3.8 - Những Tài-liệu mới bất ngờ về Khảo-cổ

            Nhiều khám-phá mới về khảo-cổ xảy ra thường-xuyên và bất ngờ, có thể làm thay đổi những kiến-thức khoa-học trước đây. Chúng tôi kể hai khám-phá mới đây:

- Dụng-cụ bằng đá cổ tới 800,000 năm. Tài-liệu khảo-cổ vùng Đông-Nam-Á nói chung và vùng Vịnh Bắc-Việt nói riêng, chưa được hệ-thống-hóa một cách chính-xác. Viện Smithsonian đang góp công hoàn-thành nỗ-lực này.

Năm 1998, đoàn khảo-cổ của viện với sư hợp-tác của người địa-phương đă t́m thấy các dụng-cụ bằng đá cổ tới 800,000 năm tại vùng Tự-Tri Chuang sát biên-giới Việt-Hoa [104]. Vị-trí này không xa bờ Vịnh Bắc-Việt bao nhiêu. Khám-phá này rất có thể kéo lùi thời-đại Đồ Đá Việt-nam hàng mấy trăm ngàn năm xa hơn về quá-khứ chăng?! Dù sao sự kiện thật bất ngờ và làm… đảo lộn khoa-học.

 

Views of both sides of one of the hand axes found in southeast China. Dated to 800,000 years old, the tools show that the hominids in Asia were as skilled in shaping tools as those in Africa. (Science)

H́nh 55. Vi-trí t́m thấy Dụng-cụ Đồ Đá 800,000 năm.

 

- Đô thị thứ ba: Đ̣ Mè. Cho đến nay, sử sách Việt Nam mới chỉ công nhận Thăng Long và Phố Hiến là hai đô thị “quốc-tế” duy nhất ở Đàng Ngoài, chưa thấy tài liệu nào nhắc đến tên của một đô thị khác. Nhưng gần đây, một số nhà khảo cổ và sử học Việt Nam đang đặt giả thuyết về sự tồn tại của một đô thị thứ ba mang tên Domea, một địa-danh thương-càng nằm giữa cửa sông Thái-b́nh và Hải-pḥng ngày nay..

Một nhà hàng hải đã viết: “Ngày 13/2/1676, người Hà Lan xuống Domea để gửi đi thuyền hàng thứ hai của họ đến Batavia, chở đầy tơ sống, lụa… và những thứ khác đi Nhật Bản…”. Qua mô tả thì Domea không chỉ là nơi tạm trú của người ngoại quốc mà còn như một trạm trung chuyển và tập kết hàng hóa. Từ đây, các chuyến hàng mới đi Thăng Long và Phố Hiến, sang Batavia và Nhật Bản, trở lại Hà Lan và Anh…

Qua các tài liệu mà Phó Giáo-Sư Nguyễn Quang Ngọc thu thập phải chăng Domea (Đ̣ Mè) chính là hải-cảng tiền thân của Hải Phòng ngày nay?[105]

Nhân khám-phá này, chúng ta thấy cũng nên lưu-tâm để hy-vọng một “ngày đẹp trời” nào đó t́m lại được “hải-cảng huyền-thoại Cattigara” ngày xưa.

H́nh 56. Đây là bản đồ do Jacques Nicolas Bellin, nhà nghiên cứu bản đồ người Pháp vẽ năm 1755, dựa trên bản gốc của một nhà hàng hải người Anh. Cacho (Kẻ Chợ/Thăng-Long) phía trên, Phố Hiến (Hean) ở giữa. Domea ở  gần cửa sông.

 

3.9 - Sinh-hoạt Lâu Đời dọc Ven biển

Nhiều chứng-liệu cho thấy những người Việt cổ đă có mặt từ lâu đời ở khắp nơi dọc ven biển Vịnh Bắc-Việt.

Giáo-sư Lê-Bá Thảo tóm tắt một số sinh-họat như sau:

Trên các đảo và quần-đảo, các hoạt-động kinh-tế của con người trở nên đa-dạng hơn: ngoài hoạt-động nông lâm nghiệp quen thuộc (trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn quả và chăn nuôi), đă có hoạt-động đánh cá, đóng tàu thuyền đi biển xa và tất nhiên cả hoạt-động thương mại. Hai hoạt-động sau tỏ ra nhộp nhịp hơn cả. Dân nước Văn-Lang[106] (năm 258 trước Công nguyên trở về trước) từ xưa đă làm nghề chài lưới như đă được chép trong sử cũ, c̣n hoạt-động thương mại diễn ra có thể chậm hơn, ít nhất là xét về mặt thương mại quốc tế.

Người ta thường hay nêu ra hai cảng thương mại quốc tế tiểu biểu là Phố Hiến (ở Hưng Yên) và Hội An (thuộc Quảng Nam) nhưng cũng cần biết rằng ngay từ đầu thế kỷ thứ XI, thương cảng Vân Đồn ở khu-vực Quảng Yên đă có những hoạt-động xuất-nhập cảng rộn rịp, không những với những nước trong khu-vực, nhất là với Trung Hoa, mà c̣n với tàu buôn một số nước phương Tây (thí-dụ với Tây Ban Nha).

Các triều đại vua chúa ngày trước đều chú ư bảo vệ vùng biển như xây đắp đồn lũy (thí dụ như thành nhà Mạc ở Cát Bà, Xích Thổ, Cẩm Phả, đồn Ngọc Vừng trên đảo cùng tên dưới thời Minh Mạng), các đội chiến thuyền, kể cả hạm đội tàu đồng như dưới thời Minh Mạng.

Tất nhiên, việc định cư và hoạt động kinh tế ở dải đất duyên hải, trên các đảo ven bờ không dễ dàng như ở trong nội địa, Ở các quần đảo xa bờ, sinh-hoạt lại c̣n khó khăn gấp bội. Thiên nhiên vùng biển cũng có lúc trời yên gió lặng nhưng phần lớn thời gian trong năm là sóng to và băo tố. Riêng khoảng cách và độ sâu cũng đă là những trở ngại đối với sự di chuyển của con người. Do đó việc chinh phục vùng biển c̣n phải tiếp tục từ đời này sang đời khác. Ngày nay, nhiệm vụ này càng phức tạp hơn và rơ ràng Nhà nước Việt Nam cần phải có chiến lược thích hợp[107].

Giáo-Sư Thảo nhấn mạnh lời cảnh-báo về sự quản-lư vùng “hải-phận đặc-quyền kinh-tế” ngoài biển như sau: “Một vùng biển rộng gấp ba lần diện-tích đất liền, nhiều tài-nguyên các loại đang chờ có sự quản lư và khai-thác hợp lư.”

 

 

H́nh 57. Họa phẩm Hiếu-Ức-Quốc xưa nhất về dân tộc Đại-Việt (1078) – Đây là một họa phẩm danh tiếng của Lư-Công-Lân tức Lư-Long-Miên, người đất Chu, đại-thần đời nhà Tống, miêu họa các sứ giả của Hiếu-Ức-Quốc, có nghĩa là nước của những người có ḷng hiếu thảo, tức là nước Đại-Việt của ta vậy [108]

Bức tranh nầy được lưu giữ tại viện bảo tàng Emile Etienne Guimet ở Paris

 

3.10 - Những Đô-thị cạnh bờ Nước Vịnh Bắc-Việt

Theo Giáo-sư Trần-Quốc-Vượng, tính-chất bán-đảo của Việt-Nam nổi bật nhất Đông-Nam-Á. Ông mô-tả các đô-thị cổ Việt-Nam đều có một đặc-điểm chung là nằm giữa những tuyến đường thủy:

- Việt-Tŕ là đô-thị cổ nhất Việt-Nam, mà vùng chung quanh đó được gọi là Đất Tổ, xuất-hiện vào thế-kỷ thứ VII trước công-nguyên. Việt-Tŕ, thành-phố nằm trên ngă ba các con sông Hồng-Hà, Đà-Giang và Lô-Giang, ngay trong thời-đại các vua Hùng đă trở thành đô-thị dịch-trạm với hệ-thống thuyền mảng dưới sông và hệ-thống voi - gùi trên đường bộ xuyên sơn.

- Cổ-Loa, trung-tâm của nước Âu-Lạc, nằm giữa vùng châu-thổ, là nơi hội-tụ của nhiếu đường sông rạch, vị-trí có nhiều mặt ưu- thế hơn Việt-Tŕ, nhất là gần biển hơn.

- Sau cuộc xâm-lược của Hán-Vũ-Đế, các cảng Luy-Lâu rồi Long-Biên ở hạ-lưu sông Hồng và Lạch-Trường ở hạ-lưu sông Mă đă thành-h́nh. Các đô-thị này đều gần biển và là những cảng thị sầm uất và lớn lao vào hạng nhất nh́ trên biểnĐông.

-Hà-Nội, đi từ một Thăng-Long truyền-thống với mạng lưới cơ-bản là đường thủy, có phương-tiện giao-thông cơ-bản là thuyền. Với lưới sông thông-thương với nhau, giao-thông đường thủy rất thuận-lợi. Thuyền từ sông Đáy vào sông Nhuệ rồi "lên Kinh" bằng sông Tô hoặc ngược lại từ quân-cảng Đông-Bộ-Đầu và thương-cảng ở cửa sông Tô trên sông Nhị, qua sông Tô, sang sông Nhuệ rồi xuống sông Đáy mà ra biển vào Nam, hay xuôi sông Đuống, sông Dâu xuống Lục-Đầu-Giang mà ra Hải-Đông, Hạ-Long biển Bắc...

Ta có thể gọi Hà Nội là thành-phố sông. Nói đúng hơn, Hà Nội cổ là thành-phố sông hồ: Hồ Tây, Hồ Gươm, Thuyền-Quang, Bẩy Mẫu v.v...[109]

Kinh-đô Thăng-Long là trung-tâm thương-mại quốc-tế lớn nhất của Việt-Nam và cũng của Đông-Nam-Á suốt thời trung-cổ. Dân-số các đô-thị loại này tăng lên rất nhiều khi giới thương buôn và hành thủy ngoại-quốc ghé Tàu cặp bến, đặc-biệt tùy theo mùa gió thuận-tiện. Theo tài-liệu của Samuel Baron viết lại vào đầu thế-kỷ 18, đường phố Thăng-Long rất đông đảo trong những phiên chợ vào các ngày mùng một và ngày dằm âm-lịch. Một số du-khách ngoại-quốc đă nghĩ rằng kinh-đô nước-Việt đông người nhất thế-giới vào những ngày này. Muốn đi 100 bước cũng phải tốn mất nửa giờ.[110]

Giáo-sư Peter Bellwood nhận xét về phát-triển hải-thương của người Việt-Nam, ước-lượng dân-cư kinh-đô nước ta vượt con số 100,000 người trong các thế-kỷ 15 đến 18, sau khi nhà Lê mở rộng tường thành tới 10km đường kính.[111]

Trước Thăng-Long, thủ-đô nước ta đă đóng tại Hoa-Lư. Khi quốc-gia vừa tái-lập được nền tự-chủ, nhà Đinh đă đóng đô ngay trên bờ con sông Hoàng-Long-Giang, từ nơi này chạy ra Biển Đông chỉ chừng hơn mười hải-lư...[112] Theo cuốn sách Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư của Sử-gia Ngô-Sĩ-Liên, thương-thuyền thuộc nhiều nước cặp bến Hoa-Lư buôn bán tấp nập. Hải-thương tiếp-tục bành trướng đúng như truyền-thống ngàn đời của dân-tộc.

 

3.11 - Truyền-thống làng xóm ven bờ sông.

Một trong những nét rơ rệt của nền "văn-minh nước" t́m thấy ở Việt-Nam là tổ-chức làng xóm ven bờ nước.

            Từ đời thượng-cổ, những xóm làng Việt-Nam đều nằm dọc theo hai bờ sông, kinh, rạch. Trong đồng-bằng sông Hồng, sông Mă; các làng có lũy tre xanh vây quanh nhưng vẫn mở xuống bến nước ven sông[113]. Phần lớn các đô-thị nước ta đă đi từ sự phát-triển vượt bực của những làng xă có đường thông-thương tiện-lợi ra biển.

            Làng nổi tiếng nhất trong ngành khảo-cổ là Đông-Sơn. Làng này nằm bên bờ sông Mă và cận kề Biển Đông, ngày xưa là một bến cảng sầm uất. Từ vùng Đông-Sơn / Lạch Trường, nhiều Tàu thuyền Lạc-Việt đă khởi-sự những chuyến hải-hành vượt Biển Đông, đi thật xa, hàng trăm hàng ngàn hải-lư.

            Một loại làng đặc-biệt quanh Vịnh Bắc-Việt là làng thủy-cơ. Làng này không giống các làng trên cạn mà được thành-lập dưới nước. Những làng này gồm nhiều nhà nổi trên mặt sông hay hồ. Làng thủy-cơ c̣n gọi là làng Vạn, làng Chài.[114] Dân-cư các làng này làm nghề chài lưới hay sinh sống bằng các nghề-nghiệp khác liên-hệ đến sông nước.[115] 

            Hai ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh đă trích-dẫn tài-liệu của học-giả Đào-duy-Anh viết về hệ-thống hành-chấnh của các làng thủy-cơ trong tiền-bán thế-kỷ 20 trở về trước như sau:

            Theo nguyên-lư th́ làng chài nào cũng phụ-thuộc với một xă thôn trên cạn. (Trong trường-hợp này, làng chài chỉ là một thôn của làng khác).

            Thực ra làng chài vốn là một làng riêng mà nhà nước chỉ bắt theo về một xă thôn trên đất để tiện việc thu thuế cho nên những dân thủy-cơ tuy phải đóng sưu-thuế cho Lư-trưởng mà vẫn không có liên-lạc ǵ với xă thôn ấy cả. Làng Thủy-cơ thường là một đơn-vị hành-chánh độc-lập có đủ tổ-chức như một xă thôn, hoặc thống-thuộc vào một tổng với các làng ở cạn hoặc nhiều làng họp thành một tổng thủy-cơ riêng. (Việt-Nam Văn-hoá Sử-cương, Đào-duy-Anh, NXB Bốn-Phương, Saig̣n, 1961.)

            Làng thủy-cơ Việt-Nam mang tính-chất lưu-động và có nhiều nét đặc-thù như các tổ-chức thôn-xóm của Thuyền-nhân (Boat People) bên Trung-Hoa hay các bộ-lạc Hải-du (Sea Nomads) thuộc các hải-đảo nằm về phía Nam của Biển Đông.

 

3.11 - Dân số Việt Nam

Tài-nguyên chính của một nước là dân-chúng. Dân số Việt Nam tăng khá nhanh. Từ đầu thế kỷ thứ 20, dân số nước ta khoảng 19 triệu người. Đến giữa thế kỷ, lên đến 25 triệu người. Cuối năm 1988, dân số Việt Nam tăng tới 67 triệu người, mật-độ trung-b́nh là 204 người trên một cây số vuông. Cuối năm 1999 dân số Việt Nam là 78,7 triệu. người. Hiện nay, chắc chắn dân chúng ta đă ngoài 80 triệu người.

!

H́nh 58. Bản-đồ ghi đia-danh các Châu ngày trước

 

Dân-cư Việt Nam phân-phối không đồng đều, phần lớn đồng bào ta tập trung ở những miền có nhiều tài-nguyên thiên-nhiên dễ khai-thác và ở các đô thị, thành-phố, các trung-tâm kỹ nghệ... Dân ta sống gắn bó với ruộng vườn, làng mạc nên tỷ số đồng bào ở nông thôn bao giờ cũng cao, ước lượng có thể lên tới 85% dân số.[116]

 

H́nh 59. Cấy lúa trên Ruộng nước- H́nh-ảnh trên tờ giấy “cinq piastres” của Banque de l’Indochine, lưu-hành đầu thế-kỷ 20.

 

 

 

H́nh 60. H́nh ảnh về dân Đông-Nam-Á do Âu-châu tưởng-tượng lúc xưa như: - Người sống trên cây - Người đảo Andaman một chân - Người Đông-Dương khi chết dược buộc vào thân cây cho chim ăn thịt…

 

3.12 - Kiểm-soát dân-số và di-dân nội địa

Dân-chúng sinh sống quanh Vịnh Bắc-Việt chiếm tới 55% dân-số Việt-Nam. Trong đó, đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư đông nhất cả nước với 83% là dân nông thôn và 17% là dân đô thị. Mật độ trung b́nh toàn vùng là 335 người/km2 nhưng mật độ thành-thi đă lên đến trên 1000 người/km2 và vẫn có chiều-hướng gia-tăng. Riêng Hà-Nội có mật độ dân số cao nhất cả nước[117] là 2,800 người/km2, đây cũng là một trong những vùng có mật độ dân số cao nhất thế giới

Theo thống-kê mới đây, Việt Nam đứng hàng thứ 13 về dân số trong các quốc gia trên thế giới và đứng thứ nh́ ở khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy dân số của Việt Nam bắt đầu là vấn đề lớn đối với quốc-gia. Mức sống người dân c̣n nghèo đói mà tài-nguyên thiên-nhiên bắt đầu cạn kiệt. Phải cần có một cuộc cách-mạng về chính-trị và cải-tiến kinh-tế th́ mới mong tiến-bộ.

Theo Tổng cục Thống kê (TCTK) th́ dự báo di cư quốc tế bằng (số) không. Nhưng di cư trong nước sẽ có tác động đáng kể đến mức tăng giảm dân số, đồng thời sẽ tác động mạnh đến chính sách phát triển kinh tế giữa các vùng. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ di cư giữa các vùng thời kỳ 1984-1989 là 19,3 phần ngh́n và vào thời kỳ 1994-1999 là 19,4 phần ngh́n. Trung b́nh cứ trong 50 người th́ có 1 người chuyển nơi thường trú. Trong cả 2 thời kỳ, chỉ có 2 vùng nhận dân di cư là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Những năm gần đây, di dân chủ yếu theo 2 ḍng: Từ nông thôn đến thành thị và từ các tỉnh phía bắc, Bắc Trung Bộ vào Tây Nguyên. Dự báo mức di cư của thời kỳ 1994-1999 sẽ tiếp tục cho các thời kỳ từ 1999-2024.

 

H́nh 61. Theo một chương tŕnh được sự tài trợ của Quỹ Hoạt động dân số Liên Hợp Quốc, kết quả dự báo là đến 2024, tỷ lệ tăng dân số VN sẽ cần giảm xuống c̣n 0,82%/năm.

 

Di dân diễn ra chủ yếu dưới tác động kinh tế xă hội, vừa chịu tác động của quy luật khách quan vừa chịu tác động của chính sách dân số. Tuy nhiên, gần đây di dân theo khuynh hướng tự do diễn ra khá phổ biến và gây áp lực dân số rất nặng đối với khu vực thành thị. Theo kết quả thống kê, trong thời kỳ từ 1994-1998 dân số thành thị đă được cộng thêm 1,4 triệu người. Từ 1999-2024, dự báo dân số thành thị b́nh quân mỗi năm tăng 556 ngh́n người, tức là từ 17,9 triệu người năm 1999 lên 31,8 triệu người năm 2024. Nếu đời sống kinh tế nông thôn được nâng cao, giảm bớt cách biệt với thành thị, sẽ có tác động đáng kể đến việc phân bố dân cư. Mặt khác, di dân tự do giữa các vùng gần đây gia tăng, ảnh hưởng đến chính sách kinh tế, quy hoạch cơ sở hạ tầng và tác động đến môi trường tự nhiên ở nhiều khu vực. Đây cũng là một mặt trái của di dân, cần được quan tâm giải quyết.[118]

 

 

H́nh 62. Mật-độ dân-số các tỉnh Bắc Việt.

 

3.13 - Cơ-nguy nạn nhân-măn

Cơ-nguy nạn nhân-măn rất cao tại đồng bằng Sông Hồng. Theo sự phỏng-định của Viện Dân-Số th́ trong ṿng 20 năm sắp tới, dân-số trong vùng này sẽ tăng 38% nếu không có biện-pháp giảm-tốc. 40 triệu người sinh sống trong một vùng đất không c̣n có thể mở rộng hay khai-phá thêm, là một vấn-đề hiện chưa có giải-pháp dứt-khoát.

 

 

 

Dân số DBSH

năm 2000

29,000,000

năm 2020

40.000.000

Mức tăng dân số

Trung-b́nh

1,8 %/năm

Thành-thị

9,8%o/năm

Dân số thành thị

(số liệu mới nhất)

5 triệu người 

10 triệu người


Diện tích đất

86.660 km2

Mật-độ dân tăng 38%

 

H́nh 63.  Một vài con số phỏng-định về sự gia-tăng dân số tại Đồng-bằng Sông Hồng (DBSH)

 

3.14 - Nếp sinh-hoạt truyền thống làng xă

Từ xưa, tổ-chức hành chánh của nông thôn Việt Nam

đă là những đơn vị sinh hoạt có tính cách tự trị và dân chủ. Căn bản của xă-hội Việt nam là gia đ́nh, thôn xóm. Nhiều thôn xóm họp thành làng hay xă, chung quanh có lũy tre bao bọc, trong đó, người dân tự bầu lấy một ban Kỳ Mục hay Hương Chức, và sống

với nhau theo một ước lệ tự trị. Đây là một h́nh thái sinh hoạt đặc biệt của văn minh Việt Nam.

Cho dù thể-chế áp-đặt hay chính-quyền đổi-thay, làng xă Việt Nam vẫn giữ lề lối sinh hoạt xưa. Phần đông dân chúng sống bằng nghề nông, đánh cá, chăn nuôi, trồng tỉa, thủ công-nghệ.... Dân-cư vùng thành thị sống bằng các hoạt-động thương măi, công kỹ nghệ, công tư chức, và các nghề tự-do.

Trên các miền thượng du và cao nguyên, đồng bào ta vẫn sống tụ hội trong những buôn làng: Đồng bào Thái quây quần trong miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Kay, Sơn La, Lai Châụ Đồng bào Nùng ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cáỵ Đồng bào Mán ở vùng núi Ba V́, Tam Đảo, Móng Cáỵ Đồng bào Mèo ở Hà Giang, Lào Kay, Lai Châu, Sơn La. Đồng bào Mường ở các tỉnh Sơn Tây, Ḥa B́nh, Ninh B́nh, Hà Đông, Thanh Hóa[119].

 

3.15 - Quảng-Ninh và việc Hoà-nhập các Dân-tộc

Nước chúng ta có tới 54 dân-tộc khác nhau nhưng cuộc sống chung rất ḥa hợp và thoải mái. Tỉnh Thanh-Hóa pha trộn nhiều màu sắc nhất vùng duyên-hải với 32 dân-tộc. Ngay ở vùng biên-giới màu-sắc cũng ḥa-hợp. Chúng tôi xin đưa t́nh-trạng nhân-văn Quảng-Ninh như một biểu-tưởng làm mẫu cho việc hoà-nhập này:

Dân số Quảng Ninh có mật-độ b́nh quân 160 người/km2 nhưng phân bố không đều. Vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành-phố Hạ Long 1.236 người/km2, huyện Yên Hưng 403 người/km2, huyện Đông Triều 354 người/km2. Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 27 người/km2, Cô Tô, Vân Đồn 70 người/km2.

Về dân-tộc, Quảng Ninh có 21 thành phần dân-tộc, song chỉ có 6 dân-tộc có hàng ngh́n người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân-tộc rơ nét. Đó là các dân-tộc-Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán D́u, Sán Chỉ, Hoa. Tiếp đến là hai dân-tộc có dân số hàng trăm người là Nùng và Mường. Mười bốn dân-tộc c̣n lại có số dân dưới 100 người gồm: Thái, Kh'me, Hrê, Hmông, Êđê, Cờ Tu, Gia Rai, Ngái, Xu Đăng, Cơ Ho, Hà Nh́, Lào, Pup cô. Đây là những người gốc các dân-tộc thiểu số từ rất xa như từ Tây Nguyên theo chồng, theo vợ là người Việt (Kinh) hoặc người các dân-tộc khác về đây sinh sống, b́nh thường khó biết họ là người dân-tộc thiểu số.

 

H́nh 64. Hinh-ảnh Thiếu-Nữ Kinh và một người dân thiểu-số

 

Trong các dân-tộc đông người, người Việt (Kinh) chiếm 89,2% tổng số dân. Họ có gốc bản-địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng-bằng Bắc Bộ. Họ sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công-nghiệp và vùng đồng-bằng ven sông, ven biển. Do có số người chuyển cư đến từ rất nhiều đời, nhiều đợt nên Quảng Ninh thực sự là nơi "góp người". Sau người Việt (Kinh) là các dân-tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Người Dao có hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Họ c̣n giữ được bản sắc dân-tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục, một bộ phận vẫn giữ tập quán du canh du cư làm cho kinh-tế văn-hoá chậm phát-triển.

 

 

H́nh 65. Các dân-tộc Miền Bắc Việt-Nam.

Lưu-ư dân Việt (người Kinh) sống tập-trung ở miền duyên-hải

 

Tại Tiên Yên, một huyên có lịch sử văn hoá lâu đời, tín ngưỡng dân gian với tục thờ tổ tiên là chủ yếu. Xưa ở Tiên Yên có nhiều tục lệ, đám cưới có hát đối đáp giữa hai họ, nhà trai hát mua hoa, mua chim, nhà gái hát bán hoa, bán chim. Lời hát mua bán ư nhị, trữ t́nh. Các dân tộc thiểu số có nhiều phong tục riêng. người Sán Chay có hát xoọng cô, giao duyên nam nữ, Người Dao có nhiều điệu kèn, có múa trong nghi lễ cúng bái. Người Tày Nùng có hát Sli, hát then.

Người Tàu, người Sán D́u, Sán Chỉ ở vùng núi thấp và chủ-yếu sống bằng nông-nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước. Người Hoa gồm nhiều dân-tộc thiểu số từ miền Nam Trung Quốc di cư sang từ lâu bằng rất nhiều đợt. Một số ít là Hoa Kiều sang buôn bán làm nghề thủ công ở các thị trấn miền Đông, c̣n phần lớn sống ở nông thôn, sản-xuất nông-nghiệp, đánh cá, làm nghề rừng. Hiện nay, các dân-tộc thiểu số - chủ nhân của miền núi - đang có những tiến-bộ rơ rệt.  

 

 

H́nh 66. Các Tỉnh duyên-hải Vịnh Bắc-Việt

 

3.16 - Quảng Ninh

Diện-tích : 5,938 km2

Dân số (1999): 1,004,461 người.

Nói chung, mức sinh-hoạt của dân-chúng các tỉnh duyên-hải Việt-Nam cao hơn đồng-bào của ta trong nội-địa. Qua mấy thập-niên rồi, tỉnh Quảng-Ninh đáng kể nhất trong các tỉnh duyên-hải v́ đă đạt nhiều tiến-bộ trên phương-diện nhân-sinh.

So với các tỉnh nằm trên tuyến biên-giới phía bắc, Quảng-Ninh có ưu-thế lớn mà các tỉnh khác không có. Quảng Ninh có bờ biển dài 250 km, với 32 đảo lớn có dân và gần 2,000 đảo nhỏ. Tỉnh có 10 huyện, 2 thị xă và một thành-phố trực thuộc là thành-phố Hạ Long. Dân số, sống ḥa-hợp với 8 dân-tộc khác nhau, như: Tày, Dao, Sán D́u, Sán Chỉ, Hoa...

Quảng-Ninh có một vị-trí chiến-lược quan-trọng trong quốc-pḥng và trong nền kinh-tế của đất nước. Tỉnh có tiềm-năng kinh-tế đa-dạng và phong-phú. Than đá là nguồn tài-nguyên chính, chiếm 90% số lượng trên cả nước. Từ lâu Quảng Ninh đă là khu công-nghiệp than lớn của cả nước, trữ lượng khoảng 3 tỉ tấn. Mỗi năm khai-thác được 6 - 7 triệu tấn than. Ước-lượng với mức khai-thác này, than sẽ đủ cung-cấp trong nhiều thế-kỷ nữa mới hết.[120] Ngoài than, Quảng Ninh có ưu-thế về vật-liệu xây-dựng như đá vôi, đất sét, cát, đá Pyproxit... để sản-xuất gạch, ngói, xi măng, đáp ứng nhu-cầu nguyên, nhiên-liệu cho nhiều ngành công-nghiệp trong cả nước.

Quảng-Ninh không những có than vàng đen của ngành công-nghiệp, lại có biển với nhiều băi tôm cá nổi tiếng cùng hơn ngh́n ḥn đảo tuyệt đẹp mà khách xa đến thăm đều ngẩn ngơ xúc động. Trên các đảo có nhiều loài gỗ quư như Sến, Lim xanh, Táu lá nhỏ, Sao hồng gai, Gội nếp… Quảng-Ninh đang trên đường xây-dựng thành một tỉnh mạnh về quân sự, giàu có về nông-nghiệp, một tỉnh lớn vào bậc nhất nước ta.[121]

Từ Mũi Ngọc đến Đầm Hà, bờ biển cạn. Có những cảng cá như Mũi Ngọc, Tiên Yên, Hà Cối, Đầm Hà…nhưng tàu lớn không cập bến được. Khi nước triều xuống ta thấy nhiều băi phù-sa tích-tụ trải rộng, bề mặt phẳng ĺ với những bụi ô rô và sú vẹt. Trong tương-lai, những băi phù-sa này có thể sử-dụng làm đất nông-nghiệp.

Xa hơn về phương Nam, bờ biển Cẩm Phả, Hồng Gai có độ sâu đáng kể. Ở đây có những bến cảng thiên-nhiên, tàu lớn cặp bến lấy than. Trong tương-lai, tàu trọng-tải 40,000 tấn có thể ra vào an-toàn cảng Cái Lân. Tổng-số hàng-hóa ra vào các cảng Quảng-Ninh đă lên tới 7 triệu tấn vào năm 1998.

Quảng Ninh có thuận-lợi về kinh-tế cảng biển, trong đó có cảng nước sâu Cái Lân, tương-lai là một trong những cảng quan-trọng của quốc-gia. Trong giai-đoạn 1, ba cầu tàu được xây-dựng trước, dành cho tàu có sức chở 40 ngh́n tấn cập cảng năm 2002.

Đất nông-nghiệp có trên 74,000 ha, trong đó 35,000 ha đất canh tác, sản-xuất mỗi năm 150 - 160 ngàn tấn lương thực, đáp ứng cơ bản nhu-cầu khu-vực nông thôn. Đất lâm nghiệp có 390,000 ha, tỉ lệ che phủ của rừng đạt trên 23%.

Miền duyên-hải trải dài với nhiều đảo lớn nhỏ bao bọc bên ngoài rất nổi tiếng về cảnh đẹp và phong-phú về hải-sản.Quảng Ninh là vùng du-lịch nổi tiếng, có Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên-nhiên của thế-giới.

 

 

H́nh 67. Bản-đồ tỉnh Hải-Ninh

 

Trước đây muốn ra đảo Vân-Đồn, người ta phải dùng phà nhưng v́ khoảng cách khá xa, lại gặp sự phức-tạp của thủy-triều, nên việc đi lại rất khó-khăn. Ngày 20-4-2002, cầu Vân Đồn được khởi công xây-dựng - nối thị trấn Cửa Ông với huyện đảo Vân Đồn. Cầu Vân Đồn với chiều dài 3.427m rộng 12 m, sẽ là cầu lớn nhất của tỉnh Quảng-Ninh. Cầu dự-kiến hoàn-thành vào tháng 7-2004.[122]  

 

 

H́nh 68. Vị-trí các cảng thương-mại và cảng than tỉnh Hải-Ninh

 

3.17 - Hải-Pḥng

Diện-tích: 1,503 km2

Dân số (1999): 1,672,992 người.

Hải-Pḥng là thành-phố lớn thứ ba của Việt-Nam sau Sài-G̣n và Hà-Nội, đồng thời c̣n là cảng lớn quan-trọng thứ hai trong cả nước. Số lượng hàng thông qua cảng trung-b́nh hơn 27 ngh́n tấn/ mỗi ngày.

 Được biết đến như là một thành-phố Hoa phượng đỏ, Hải-Pḥng c̣n rất nhiều ngôi nhà xây-dựng theo kiểu Pháp. Đây là một thành-phố nhỏ và xinh xắn, khách du-lịch có thể đi dạo khắp thành-phố, dễ dàng mua sắm và thăm viếng những điểm du-lịch nổi tiếng:

- Đ́nh Hàng Kênh nằm ngay trong thành-phố. Bên trong thờ thành hoàng làng và Ngô Quyền, vị anh-hùng dân-tộc chống lại quân xâm-lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.

- Chùa Dư Hàng là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất vùng này. Chùa được xây-dựng cách đây 3 thế kỷ. Ngôi chùa được trang trí rất đẹp và c̣n lưu giữ lại được nhiều đồ vật cổ,

- Sông Bạch Đằng là con sông nổi tiếng trong lịch-sử Việt Nam, đó là nơi dân-tộc-Việt Nam đă 3 lần đánh bại quân xâm-lược phương Bắc. Trong đó chiến thắng thứ ba đánh thắng quân Nguyên Mông được cả thế-giới biết đến. Nhiều cọc gỗ nhọn đă được t́m thấy tại đây.

- Băi biển Đồ Sơn cách Hải-pḥng 20km là băi biển khá đẹp có băi cát trắng và mịn. Các khách sạn ở đây tương đối tốt có thể đáp ứng được nhu-cầu của du-khách.

 

 

H́nh 69. Bản-đồ Hải-Pḥng

 

 

H́nh 70. Tàu Bạch Đằng 6,600 tấn vừa hạ-thủy

 

Kỹ-nghệ đóng tàu của Hải-Pḥng khá tiến-bộ. Năm 2002, nhà máy đóng tàu Bạch Đằng đă hoàn-tất việc đóng chiếc tàu vận-tải thứ ba có trọng-tải 6,500 tấn theo tiêu-chuẩn đăng-kiểm của Nhật-Bản. Tiếp tục là một con tàu 11,500 tấn. Dự-trù trong tương-lai, xưởng này sẽ kiến-trúc và sửa-chữa thương-thuyền lớn tới 30,000 tấn [123]. Người Nhật-bản cũng tài-trợ việc nâng-cấp hải-cảng Hải-Pḥng trong ngân-quỹ OECF (Overseas Economic Co-operation Fund).

Sự gia-tăng lưu-lượng trên tuyến Vân-Nam / Hà-Nội / Hải-Pḥng sẽ làm cho các hải-cảng Hải Pḥng, Cái Lân thêm bận rộn[124].

 

 

H́nh 71. Một kiến-trúc kiểu Pháp tại Hải-Pḥng

 

Hải-Pḥng có một huyện-đảo là Cát Hải, nằm về phía Đông thành-phố Hải Pḥng, cách nội thành 22 km. Tổng diện-tích (kể cả rừng ngập mặn): 322,3 km2 (chỉ tính phần đă xác định) Dân số: 27,336 người.

Cát Hải có đường xuyên đảo Đ́nh Vũ - Cát Bà; có bến Gót, bến Bèo là những đầu mối giao-thông chính bằng đường thủy đưa đón khách Hải Pḥng - Cát Bà. Trên đảo có Vườn Quốc gia Cát Bà.[125] Hướng phát-triển kinh-tế của huyện đảo Cát Hải là nghề cá, nghề muối, chế-biến hải-sản, du-lịch và dịch vụ. Một số ngành tiểu thủ công nghiệp trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi. Cát Hải có đặc sản nước mắm ngon nổi tiếng.

 

3.18 -Thái B́nh

Diện-tích: 1,509km2
Dân số (1999): 1,785,600 người.

Cư dân của tỉnh sinh sống ở thị xă Thái B́nh và các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Đông Hưng, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thụy. Mật-độ toàn-tỉnh vào hàng cao nhất nước, 1,2000/km2.

 

 

H́nh 72. Bản-đồ tỉnh Thái-B́nh

 

 Thái B́nh là một trong những tỉnh đặc-biệt nằm quanh Vịnh Bắc-Việt v́ không có đồi núi. Tuy vậy, Thái-B́nh có bờ biển dài 53 km, 5 cửa sông lớn và nhiều băi cát dài thoai thoải, nước trong xanh. Những khoáng-sản trầm-tích tiến xa ra biển, những mỏ dầu, khí đốt hấp dẫn giới khoa-học và các nhà kinh-tế. lưu-tâm. Thái B́nh không có “sơn-hào”, nhưng “hải-vị” rất đáng kể với trên 200 loài thủy-sản có giá trị kinh-tế cao. Ngoài ra, gần 2500 đầu chim quí hiếm là niềm vui bất tận cho các dịch vụ săn bắt, giải trí.[126]

Khu bảo-tồn thiên-nhiên Thái Thụy có ranh-giới phía nam là sông Trà Lư và ranh-giới phía bắc là sông Thái B́nh. Khu bảo-tồn có các con sông như sông Diêm Hồ chảy ra biển tại khu-vực giữa sông Trà Lư và sông Thái B́nh. Phía Nam của sông Thái B́nh có các băi bồi lớn được tạo bởi các trầm-tích lắng đọng. Phía tây khu bảo-tồn là các băi cát trũng tiếp giáp với sông Trà Lư, ở đó có các đầm canh tác thủy-sản.

Từ những thập-niên 1960, 1970; người ta đă hy-vọng t́m thấy dầu khí ở Thái-B́nh. Dầu thô chưa t́m thấy, nhưng việc khai-thác khí đốt đă tiến-hành với giá-trị thương-mại khiêm-tốn. Ước-tính trữ-lượng của một công-trường khí đốt ở Tiền-Hải là 1.3 triệu mét khối [127]. Cho dù ít hay nhiều, việc t́m kiếm dầu khí trong khu-vực duyên-hải và ngoài Vịnh Bắc-Việt cũng đă mang lại hy-vọng lớn cho cả nước về dầu khí [128].

Toàn tỉnh có 82 công-tŕnh kiến-trúc nổi tiếng như chùa Keo, đền Đông-bằng, đền Tiên Ca, cung Long Hưng. Thái B́nh có khoảng 30 lễ hội khác nhau như hội Keo, Tiên ca, Đồng-bằng, hội Du xuân, hội thi nghề... Các h́nh thức sinh hoạt văn-hoá ở Thái B́nh hết sức phong-phú với 16 thể loại hát, múa đặc trưng như múa rối nước Nguyên xá, chèo làng Khuốc, kéo chữ Phụng công, múa bát dập, hát ống Lộng Khê, hát trẽ khói Cốc mỏ... nhiều tṛ chơi độc đáo: Thi pháo đất, bắt cá, bắt trạch, bắt vịt, nấu cơm, dệt chiếu, rước ông Đùng - bà Đà, chọi trâu, chọi gà...

 

 

H́nh 73. - Cầu Tân-Đệ nối Nam-Định và Thái-B́nh lúc sắp hoàn-tất

           

 

H́nh 74. Vị-trí Cây Cầu Tân-Đệ- Cầu này nối liền Nam-Định với Thái-B́nh

 

3.19 - Nam Định

Diện-tích: 1,669,36 km2

Dân số (1999): 1,888,406 người

Nam Định là một tỉnh quan-trọng về dân số cũng như về vị-thế trong khu-vực châu-thổ sông Hồng. Tỉnh này gồm có: thành-phố Nam Định, các huyện: Xuân Thủy, Hải-Hậu, Nam Ninh, Nghĩa Hưng, Vụ Bản, Ư Yên. Thế mạnh về kinh-tế của Nam-Định là: Nông - Công - Ngư nghiệp

Địa-thế Nam Định thuận-lợi cho việc giao-thông đến các tỉnh lớn khác bằng đường bộ và đường thủỵ Quốc lộ 1 và liên tỉnh lộ 10 là những đường giao-thông quan-trọng. Năm nay, cây cầu Tân-Đệ nối Nam-Định và Thái-B́nh vượt sông Hồng vừa hoàn-tất.

Mật-độ dân-cư Nam Định cũng cao như Thái B́nh. Ruộng ở đây cũng như ở Thái B́nh, do phù-sa bồi đắp lên. Nông-dân cấy lúa hai vụ chiêm mùa[129]. Cây kỹ nghệ ở Nam Định không nhiều ngoài cây dâu nuôi tằm, cây bông sợi và cói trồng rải rác khắp tỉnh. Những loại cây ăn trái cũng được trồng nhiều ở vùng quê. Ở Xuân Trường và Giao Thủy có loại cam rất ngon, ở Ngọc Cục trồng chuối ngự và một loại bắp cải nổi tiếng. Các vùng gần sông biển thịnh hành về nghề đánh cá. Vùng biển Quất Lâm, Văn Lư có rất nhiều loại cá tôm ngon. Ngoài ra, dân chúng c̣n làm muối ở Quất Lâm, Lạc Quần, Văn Lư, Chợ Con, Xuân Hạ....Nam Định không có mỏ kim-loại mà chỉ có một số mỏ đá vôi ở vài ngọn núi đồi trong tỉnh.

Kinh-tế và thương mại của Nam Định chưa phát-triển mạnh, c̣n thiên về các nghề tiểu thủ công-nghệ. Sinh hoạt buôn bán tập trung vào thóc gạo, bông sợi, tơ lụa, ngư sản, muối, đồ khảm... Đặc-biệt nổi bật nhất có Nhà Máy Sợi Nam-Đinh có thời kỳ đã phát triển rực rỡ với khoảng 17,000 người. Giữa thập-niên 1990, do cách quản lý sai lầm, đã rơi vào tình trạng suy sụp. Hiện nay, nhà máy đang sử-dụng 7,300 công nhân. Với chương trình đầu tư đổi mới kỹ thuật, công nghệ từ nay đến năm 2005, Công ty Dệt Nam Định đang hy-vọng trở lại là một trong những công ty dệt may lớn nhất ở khu vực miền Bắc.

Nam Định có nhiều di-tích và thắng-cảnh như sau: Đền nhà Trần: đền Đức Trần Hưng Đạo, đền anh-hùng Triệu Quang Phục, đền thờ Trung Tấn Vương, đền thờ Lương Quận Công họ Bùi, đền Phủ Giầy và đền Đồng Phù, chùa Tháp chùa Phổ Minh, chùa Cổ Lễ và chùa Đại Bi thờ Đạo Hạnh Thiền Sư đời Lư.

Đền nhà Trần rất cổ, tại làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, cách tỉnh lỵ ba cây số về phía Bắc> Đền c̣n gọi là Thành Vàng hay đền Cổ Trạch, xây vào năm 1239 để thờ các vua nhà Trần, trước đền có hai chữ "Trung-Hiếu" rất lớn.

Nam-Định có 3 cảng:

- Cảng sông tại thị-xă Nam-Định tiếp-nhận 600,000 tấn hàng năm.

- Cảng biển Hải-Thịnh 750,000 tấn hàng năm.

- Cảng Kiến-Khê đang bành-trướng.

 

 

H́nh 75. Bản-đồ tỉnh Nam-Định

 

3.20 - Ninh B́nh

Diện-tích: 1,388 km2

Dân số (1999): 884,080 người.

Ninh B́nh bao gồm 2 thị xă lớn Ninh B́nh và Tam Điệp cùng 5 huyện: Hoàng Long, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Kim Sơn.

Diện-tích rừng của Ninh B́nh chiếm tới 11.275 hécta, rừng nguyên thủy Cúc Phương rất nổi tiếng. 233 loài động-vật bao gồm các loài chim, 24 loại côn trùng và nhiều loại thuốc quư.

 Về địa-thế, Ninh B́nh gồm hai khu khác hẳn nhau: khu phía Đông-Bắc là đồng-bằng phù-sa, khu phía Tây-Nam là đồi núi. Các dăy núi đá vôi chạy dài theo hướng Tây Bắc/Đông Nam từ tỉnh Ḥa B́nh ra đến biển vào đến tận tỉnh Thanh Hóá. Phía nam của Ninh-B́nh có nhiều đèo như đèo Tam Điệp (là nơi quốc lộ số 1 đi qua), đèo Đồng Giao, đèo Quán Các, đèo Chính Đạị...Khu đồng-bằng có nhiều ngọn núi đá vôi đơn độc cao từ 50 tới 100 thước, như núi Thúy, Cánh Diều, Hồi Hạc, v.v... Những núi bất thường này tạo nên một vùng cẩm tú mang danh là "Vịnh Hạ Long trên đất liền"[130].

 

 

H́nh 76. Bản-đồ tỉnh Ninh-B́nh

 

Vùng phía Nam của tỉnh Ninh B́nh, chỗ cửa sông Đáy, nhờ phù-sa bồi đắp mở rộng đất đai ra biển, hàng năm có tới 100 m.

Là một nhánh của sông Hồng, sông Đáy là sông lớn nhất của Ninh B́nh. Các sông khác chảy qua tỉnh là sông Nho Quan, Hoàng Long Giang và Chính Đại. Ninh B́nh có nhiều sông nhỏ ở gần miền biển, giữ vai tṛ hữu ích là tháo bớt nước trong mùa nước lớn tránh nạn lụt lội.

Tương-tự như sông Bạch Đắng, sông Đáy cũng từng giữ vai-tṛ chiến-lược trong lịch-sử:

- Vào năm Kỷ-Măo (979) hơn một ngàn chiến-thuyền Chiêm tiến vào cửa Đại-An sông Đáy. Không may cho họ, một trận băo nổi lên đánh ch́m cả hạm-đội. Phần lớn quân Chiêm làm mồi cho cá. Quân Chiêm gặp trận "Thần-Phong" không đánh đă tan. Thủy-quân Việt tại kinh-đô Hoa-Lư tuy sẵn sàng tác-chiến nhưng không phải ra tay.

- Sông Chính Đại (nhánh sông Đáy, thuộc huyện Yên Mô) có cửa Thần Phù. Đây là nơi quân Chiêm Thành đổ bộ thủy quân đánh bất ngờ và chiếm được thành Thăng Long năm 1377 (đời vua Trần Duệ Tông. Trước đây,cửa biển Thần Phù có gió to sóng lớn, nhưng nay đất bồi ra biển khá nhiều.

Trước đây, chung quanh tỉnh lỵ và trên bờ sông Đáy, dân chúng thường chỉ cấy lúa chiêm. Sau khi xây đê và lập hệ-thống dẫn nước vào ruộng ngày nay nông-dân canh tác tới 2, 3 vụ mùa hàng năm. Miền cao th́ trồng các loại cây kỹ nghệ như trà, trẩu, cà phê và thuốc lá. Thuốc lá Ninh B́nh khá nổi tiếng. Các hoa màu khác là lạc (đậu phọng) dâu, mía, ngộ, khoai...

Về phía Tây Nam có nhiều rừng có nhiều cây mây, song (một loại cây mây), và trẹ Tre hoa là loại tre rất tốt ở hai huyện Gia Viễn và Nho Quan. Rừng Ninh B́nh có nhiều dă cầm dă thú. Vùng gần biển, như Phát Diệm, dân chúng trồng cói và là một nguồn lợi đáng kể của Ninh B́nh. Vùng gần sông biển, dân ta cũng làm nghề đánh cá. Khoáng-sản trong tỉnh không nhiều, chỉ có mỏ than ở Đồng Giao, vùng núi có nhiều đá hoa. Kỹ nghệ và thương mại Ninh B́nh chưa phát-triển nhiều, chỉ có ngành dệt và sản-xuất chiếu ở vùng Phát Diệm là thịnh hành hơn cả.

Ninh B́nh có nhiều thắng-cảnh và di-tích lịch-sử: Hoa Lư: Kinh đô của nhà Đinh và Tiền Lê,

 Người ta đă t́m thấy nhiều cổ-vật quư từ thời kỳ đồ đá ở Ninh B́nh. Ngoài ra ở đây c̣n có suối nước khoáng với nhiệt-độ trung-b́nh 530C rất thuận-lợi cho khách du-lịch nghỉ ngơi và dưỡng bệnh.

            Ninh B́nh trước đây là kinh đô dưới triều vua Đinh và vua Lê vào thế kỷ 10. Cố đô này là một trong những điểm di-tích lịch-sử nổi tiếng nhất ở Việt Nam với các cụm di-tích: Đền thờ Vua Đinh, Vua Lê, cố đô Hoa Lư, chùa Nhất Tự, khu Ba Chùa, khu Vọng Đức và chùa Can Linh... Thêm vào đó c̣n có đền Thái Vi, chùa Bích Động, chùa Linh Cốc tại Tam Cốc - Bích Động cùng nhiều đ́nh, đền, chùa từ các thời Trần, Lê, Động Thiên Tôn: ở làng Đa Giá, thờ đức Trấn Vũ từ hơn ngh́n năm nay và nhà thờ đá Phát Diệm tại Kim Sơn.

 

 

H́nh 77. Quang-cảnh Ninh-B́nh, vùng “Hạ-Long Trên Cạn”

 

Về địa-giới, Ninh-B́nh là một tỉnh nhỏ tân-lập, nhiều khi bị sáp-nhập vào các tỉnh lớn hơn. Tuy vậy, chỗ đứng của tỉnh Ninh-B́nh trên phương-diện địa-dư và lịch-sử có tính-cách riêng-biệt và độc-lập của nó. Cảnh-quan cũng có thay-đổi nhiều trong giai-đoạn nửa thế-kỷ vừa qua. Những cánh đồng chiêm ngập nước mùa lũ-lụt đă biến mất.[131] Dân làng nhiều nơi không c̣n dùng thuyền làm phương-tiên giao-thông. Đê chắn nước dọc theo sông được xây khắp nơi, tuy giúp dân cầy cấy nhiều vụ lúa trong năm, nhưng cũng thường xuyên làm cho đồng ruộng bị úng-thủy lâu hơn.

Rừng nguyên sinh Cúc-Phương ở vị-trí giáp ranh-giữa ba tỉnh Ninh B́nh, Hoà B́nh; có diện-tích 25,000 ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 600 m so với mặt biển.

Tại thị-xă Ninh-B́nh có một cảng sông với khả-năng tiếp-nhận tối-đa 2 triệu tấn hàng-hóa một năm (1.6 triệu tấn năm 1996). Tỉnh đang hoạch-định để tương-lai tiếp-nhận tàu biển cỡ một ngàn tấn.

 

3.21 - Thanh Hóa

Diện-tích:11,168 km2

Dân số (1999): 3,467,609 người

Thanh Hóa là một tỉnh lớn đông người, có bờ biển dài gần 100km với nhiều băi biển đẹp mà nổi tiếng nhất là Sầm Sơn. Đây là băi biển phẳng, nước xanh như ngọc tràn ngập ánh nắng với nhiều điểm du-lịch phụ cận như đền Độc Cước, ḥn Trống Mái, chùa Cô Tiên, khu đầm lầy nước mặn Quảng Cư, Quảng Tiên có nhiều chim thú, cây cỏ và hải-sản. Hàng năm có hàng triệu du khách tới Sầm Sơn để tắm biển và nghỉ ngơi.

Thanh Hóa có ngư trường của nhiều nguồn hải-sản khá phong-phú. Cả tỉnh hiện có khoảng 50 ngh́n lao-động và gần nửa triệu ngư-dân làm nghề biển.

Đất đai Thanh Hóa ít đồng-bằng nhưng rất nhiều rừng núi, chia tỉnh làm từng vùng. Núi rải rác khắp nơi, độ cao từ 200 đến 1.300 thước. Những dăy núi đáng kể là: Dăy núi Tam Điệp chạy dài phía Bắc, giáp ranh-giới với Sơn La, Ḥa B́nh và Ninh B́nh; dăy núi Pu Luông phía Tây, dăy núi Quỳnh Lưu phía Nam. Phía Đông có núi Lau, Ba Làng. Ngoài ra là những núi Ái, Hùng Lĩnh, Bù Me (700 thước), Bù Bưa (1.280 thước), Bù Bang, Bù Mun (719 thước), Bù Tam (357 thước), Bát Noăn Sơn, Sơn Trang, Hỏa Châu, Đá Chẹt, Bọm, Voi, Các, Vân Liên, Lom Dong, Thông Lim, Liên Xá, Ngọc Sơn, Tuân Thiềm, Hậu Thạch, Thiết Giáp, Thần Đầu, Bàn A, Xuân Đài, Tam Thai, Diệu, Bút, Kim Sơn, Mai Sơn, Độc Cước, An Hoạch, Khế, Nưạ...

Tỉnh có trên 200 suối và khoảng 20 sông rạch chảy từ hướng Tây-Bắc xuống Đông-Nam vào Vịnh Bắc-Việt. Sông chính là sông Mă dài 380 cây số, phát nguyên từ dăy núi Pu Va, chảy ngang tỉnh rồi ra cửa biển Hội Trào khá lớn (1,800 thước). Sông Lường (sông Chu) dài 135 cây số chảy từ Sầm Nứa bên Lào về Thanh Hóạ Ngoài ra là các sông Chang, sông Bười, sông Cây Gang, sông Đằng.... Những cửa biển quan-trọng là Hội Trào, Ba Làng, Y Bích, Bạng.

 Các cảng cá Lạch Hới (Sầm Sơn), Lạch Bạng (Tĩnh Gia), Lạch Trường (Hậu Lộc) đă và đang trở thành những trung-tâm dịch vụ nghề cá, không chỉ đem lại lợi ích kinh-tế trực-tiếp cho địa-phương, c̣n tạo thêm điều-kiện để các nơi khác đến giao-lưu hàng-hóa, trao đổi kinh-nghiệm hoạt-động kinh-doanh hải-sản.

 

 

H́nh 78. Bản-đồ Thanh-Hóa

           

Huyện Nga Sơn sát tỉnh Ninh B́nh có động Từ Thức, theo truyền thuyết là nơi Từ Thức gặp tiên. Động có rất nhiều điều kỳ thú do thiên-nhiên tạo ra như Đường lên trời, Kho gạo, Kho khỉ, Chuông...

Đền Độc Cước (c̣n gọi là đền Gầm) ngự trên đỉnh ḥn Cổ Giải gắn liền với truyền thuyết chàng khổng lồ xẻ đôi ḿnh, một nửa ra khơi tiêu diệt thủy quái bảo vệ dân chài, c̣n một nửa đứng canh trên đỉnh ḥn Cổ Giải. Đền vẫn c̣n tượng nửa thân người và bước chân khổng lồ trên đá của chàng trai dũng cảm đó.

Vườn quốc-gia Bến Én giáp phía Nam tỉnh Nghệ An có phong cảnh núi hồ đẹp cùng những cây cổ thụ hàng ngàn tuổi và nhiều động-vật quư hiếm.

Đối với những du khách say mê lịch-sử không thể bỏ qua di-tích thành nhà Hồ mà kiến-trúc của nó làm người ta liên-tưởng tới những thành đá ở Ư và Hy Lạp, các di-vật của người Việt cổ (Núi Đọ, Đông Sơn), khu di-tích Lam Kinh. Ngoài ra tới đây du khách sẽ được thưởng thức chiêm ngưỡng những di sản văn-hoá Việt Nam bao gồm các tṛ chơi dân gian, các làn điệu xứ Thanh, các lễ hội và nhiều hoạt-động văn-hoá khác. Chắc chắn Thanh Hoá sẽ là điểm dừng chân không thể bỏ qua đối với nhiều khách du-lịch trong và ngoài nước.

Bờ biển Thanh Hóa thấp và phẳng v́ tiếp giáp với các đồng-bằng. Tuy nhiên, cũng có vài nơi lởm chởm với những dăy đá ngầm. Ngoài khơi biển Thanh Hóa có một số đảo nhỏ như ḥn Nẹ ở phía Nam Nga Sơn, ḥn Nghi Sơn trên có núi Biện Sơn cao 162 thước. Phía Đông ḥn Nghi Sơn là quần đảo ḥn Mê với các ḥn Vang, ḥn Vát, ḥn Bong, ḥn Gác, ḥn Đó.

Một số nơi ở Đông Sơn, Thiệu Hóa, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hậu Lộc vẫn c̣n những vết tích của các thời kỳ đồ đá cũ sơ khai, đồ đá giữa, đồ đá mới, đồng thau sơ khai và những vết tích thuộc nền văn-hóa Đông Sơn cuối thời đại đồ đồng.

Núi rừng Thanh Hóa đă chia đất đai làm nhiều vùng kinh-tế. Vùng đồng-bằng trồng lúa và các loại hoa màu như khoai lang, đậu tương, ngô, thuốc lá, cau. Giữa miền núi và đồng-bằng có nhiều đồi thấp thích hợp cho việc trồng cây kỹ nghệ như trà, bông g̣n, mía, hoa màu, cây ăn trái. Cam ở làng Giàng và mía "Đường Trèo" nổi tiếng ngon.

Vùng rừng núi có nhiều loại cây lồ ô (luồng), tre, nứa, vầu, lim, quế, củ nâu. Lim xanh là loại gỗ rất tốt. Quế Thanh ở Trịnh Vạn rất quư, có thể chữa nhiều bệnh và có nhiều ở các rừng thuộc hai huyện Lang Chánh và Thường Xuân. Tại ven biển Thanh Hóa, dân chúng trồng dừa, dưa hấu, đay, dâu nuôi tằm, cói và làm nghề đánh cá. Cá Mè ở sông Mực thịt rất thơm. Xưa, cá Mè, cam Giàng, mía "Đường Trèo" thường được dùng để tiến vua. Rừng Thanh Hóa cũng có nhiều dă cầm dă thú như cọp, beo, gấu, khỉ, hươu, nai, gà gô, gà lôi, công....

Khoáng-sản địa-phương có một số mỏ như: Mỏ cơ-rôm (kền) cô-ban (cobalt) ở Triệu Sơn; mỏ sắt ở Đông Thiệu, Trung Sơn, Như Xuân; mỏ phốt-phát ở Hàm Rồng, Nông Cống, Vĩnh Thạch, Thọ Xuân; mỏ đồng vùng Lương Ngọc, Thường Xuân; mỏ ch́, kẽm ở Như Xuân, Tĩnh Gia; mỏ than vùng Quảng Xương, Cẩm Thủy; mỏ mi-ca ở Hoằng Hóa; mỏ đá vôi ở khắp nơi.

Thanh Hóa là vùng đất dựng nghiệp của nhiều triều đại. Tỉnh này có những di-tích lịch-sử và danh lam thắng-cảnh như: Mộ anh thư Triệu Trinh Nương, Đền anh-hùng Lư Thường Kiệt, Đền anh-hùng Trần Nhật Duật, Đền vua Lê Thái Tổ…

Tại xă Đan Nê, trong núi Tam Thai có Miếu Đồng Cổ. Trong Miếu có đặt một trống đồng, mặt trống lớn hơn hai thước, cao trên một thước; mặt có chín ṿng tṛn, chung quanh khắc hoa-văn. Tục truyền rằng đây là chiếc trống đồng đời vua Hùng Vương.[132]

Thanh Hóa đang cố nâng sản-lượng đánh bắt thủy-sản, từ 50,000 tấn trong năm 2000 lên đến 75,000 tấn vào năm 2010 (trong đó khai-thác xa bờ là 15,000 tấn vào năm 2000, và 35,000 tấn vào năm 2010). Về diện-tích nuôi trồng thủy-sản, từ 6,000 ha vào năm 2000 sẽ đạt đến 8,000 ha vào năm 2010. Thanh Hóa nâng giá trị xuất khẩu thủy-sản từ 12 triệu Mỹ-Kim USD (US Dollar) vào năm 2000 lên 40 triệu USD vào năm 2010.

 Ngoài người Kinh (84,7 %), Thanh-Hóa có tới 31 nhóm dân-tộc. Trong đó, đông nhất có người Mường (8,7 %), người Thai (5,9 %), người H'Mong, người Dao, và người Thổ. Người Kinh sống dọc duyên-hải, nợi đô-thị. Những dân-tộc khác sinh-hoạt tại vùng núi.

 

3.22 - Nghệ An

Diện-tích: 16,371 km2

Dân số (1999): 2,858,265 người.

Tỉnh Nghệ An có tới 16 dân-tộc sống chung với nhau. Đông nhất là người Kinh, sau đó đến người Thái, Tầy, H'Mông, Chút... Tỉnh có 17 huyện: Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Hưng Yên, Nam Đàn, Đô Lương, Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Trương Dương, Kỳ Sơn và thành-phố Vinh.

Nghệ An có đủ cả miền núi, trung du, đồng-bằng và ven biển. Tỉnh có nhiều sông lớn nhỏ. Sông lớn nhất là Sông Lam dài 532 km. Rừng chiếm 3/4 diện-tích của tỉnh. Có nhiều động thực-vật quí hiếm như: Hổ, Gấu, Trầm Hương, Kỳ Nam... Biển Nghệ An ấm, có khoảng 600 loài sinh-vật biển.

Nghệ An có nhiều danh lam thắng-cảnh: Băi biển Cửa Ḷ, Bến Thủy.. Các đặc sản nổi tiếng như: Cam xă Đoài, Bưởi Phúc Trạch, cà phê Phú Quỳ.

Nguồn hải-sản ở đây rất phong-phú, khoảng trên 200 loại cá, nhiều loại đặc sản như: tôm, mực, cua, rắn biển, cá mú... du khách đến Cửa Ḷ sẽ được thưởng thức các món ăn đặc sản ngay tại các nhà hàng và nếu có thể ngay tại băi biển.

 

H́nh 79. Bản-đồ Nghệ-An

 

Ngoài khơi Nghệ-An có đảo Ḥn Mát rộng chừng 3 km2 và những ḥn đảo nhỏ hơn không quan-trọng như Ḥn Niêu (Ḥn Ngư), Ḥn Tuần

Hải-cảng Cửa Ḷ đă được vét sâu xuống và cải-tiến cơ-sở và trang-cụ, hiện đă tiếp-nhận tàu lớn tới 10,000 tấn. Đây là cảng trung-tâm các tỉnh Miền Bắc Trung-phần, có khả-năng thu hút hàng quá cảnh của Thái Lan và Lào để chuyên-chở đi các nơi tiêu-thụ.

Nghệ-An là tỉnh có truyền-thống hàng-hải lâu đời. Thuyền bè và trang-cụ ngư-nghiệp c̣n mang nhiều sắc-thái đặc-biệt của cổ thời như cánh buồm h́nh tai, cây xiếm, bè tre…    

 

3.23 - Hà Tĩnh

Diện-tích: 6,054 km2

Dân số (1999): 1,269,013 người.

Hà-Tĩnh có hai thị xă là Hà Tĩnh và Hồng Lĩnh cùng 8 huyện là Hương Sơn, Đức Thọ, Nghi Xuân, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà, Cốm Xuyên và Kỳ Anh. Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km. Sông Gianh và cửa biển Nhật-Lệ, địa-danh lịch-sử nằm ở đây.

 

 

H́nh 80. Bản-đồ Hà Tĩnh

 

Địa-h́nh Hà Tĩnh đa-dạng, có đủ các vùng đồi núi, trung du, đồng-bằng và biển. Cảnh quan có thác Vũ Môn, rừng quư Vũ Quang (Hương Khê), hồ Kẻ Gỗ, suối nước nóng Sơn Kim, đèo Ngang, chùa Hương Tích, Cửa Sót, Thiên Cầm - Ḥn Bớc, Ḥn Lá,... các băi tắm đẹp như Cửa Sót, Thiên Cầm, Đèo Con, Xuân Thành, Chân Tiên. các thắng-cảnh phần lớn đều phân bổ dọc đường quốc lộ 1A và quốc lệ 8.

Ngoài Mũi Rọn dưới chân đèo Ngang gần biên-giới Quảng B́nh có một ḥn đảo nhỏ bằng đá.

Hà Tĩnh nổi tiếng về "Văn-vật Hồng lam với các di chỉ khảo cổ rú Dầu, rú Rơm, băi Phân phối, đồ sắt Vân Chàm, Minh Long, đồ đồng Đức Lâm, đồ gốm Cảm Trang, đồ mộc Thái Yên, lụa Hạ, vải Hồ. Dăy Hoành Sơn c̣n lưu giữ lũng cổ đắp ghép từ thế kỷ thứ 4. Đạo Mẫu, đạo Nho, đạo Phật và tín ngưỡng thành Hoàng để lại hàng trăm đền, chùa, miếu mạo như tháp Cửa Diêu, chùa Hương Tích, đền Tam Lang...

Khu bảo-tồn thiên-nhiên Kẻ Gỗ dự kiến thành lập với diện-tích 24.800 ha, nằm trong vùng ranh-giới huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là vùng thường xanh cây lá rộng c̣n lại khá lớn thuộc dạng rừng trên địa-h́nh thấp đă được h́nh thành từ lâu dọc theo vùng đồng-bằng ven biển miền Trung Việt Nam mà hiện nay phần lớn đă biến thành vùng đất canh tác nông-nghiệp. Khu bảo-tồn thiên-nhiên Kẻ Gỗ sẽ là nơi bảo-vệ một khu-vực tiêu biểu của sinh cảnh rừng nói trên.

Rừng Hà Tĩnh có lâm sản các loại như gỗ lim, củ nâu, gụ, mây, tre, nứa; một số cây làm thuốc như quế, sâm, trầm hương, quán chúng thảọ... Khoáng-sản có một số mỏ sắt, thiếc, than đá, đất sét. Mỏ khoáng-sản được coi là lớn nhất vùng ở Thạch Khê (Hà Tĩnh) hiện đang chờ được khai-thác, do nằm sát ngay bờ biển và nằm sâu dưới đất.

Dân chúng hành nghề đánh tôm, cá dọc theo các sông rạch và bờ biển. Tuy vậy, tỉnh Hà Tĩnh chưa có một cảng cá thật sự với dịch vụ trên bờ cho nghề cá xa bờ và tỉnh cũng chưa có các cơ sở chế-biến thủy-sản hiện-đại.

 

3.24 - Quảng B́nh

Diện-tích: 8,984 km2

Dân số (1999): 793,863 người

Quảng B́nh nằm trải dài dọc theo phía bắc Miền Trung Việt Nam, là vùng hẹp nhất trên toàn lănh-thổ đất nước. Do đó bờ biển của tỉnh kéo dài tới 126 km. Quảng B́nh gồm 6 huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Minh Ḥa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch và thị xă Đồng Hới.

Bởi có năm cửa sông, trong đó cửa Nhật Lệ, cửa Giang khá rộng, Quảng B́nh đă thu hút ngày càng đông lượng tàu thuyền các tỉnh miền Trung về neo đậu. Ở cửa Gianh và cửa Nhật Lệ, vào mùa cá, mỗi ngày có hàng ngh́n thuyền lớn ra vào mua bán hàng và hàng trăm xe vận-tải từ nhiều tỉnh, thành-phố trong nước đến chở hải-sản. Hoạt-động mua bán diễn ra suốt ngày đêm tạo nên thị trường nghề cá thật sôi động và sầm uất.

Tỉnh Quảng-B́nh cũng có chung vấn-đề khai-thác ngư-sản như tỉnh Hà-Tĩnh. Hầu hết các cơ sở chế-biến đều chỉ ở dạng thủ công, gia công để bán cho các đơn vị xuất khẩu lớn của địa-phương khác mà chưa có một nhà máy chế-biến hiện đại.

Quảng B́nh là vùng có khí hậu khắc nghiệt nhất trong cả nước. Hàng năm từ tháng 4 đến tháng 6 thường có gió Lào khô và nóng, từ tháng 10 đến tháng 12 thường có băo và lụt gây ra những thiên-tai nặng nề. Nạn đất lở biển lấn cũng thường hay xảy ra ở các vùng cửa sông vùng Quảng Trạch. Nhưng may mắn là trong thời gian từ tháng 2 tới tháng 4 hàng năm, thời-tiết dễ chịu. Đó là giai-đoạn thích hợp nhất cho các hoạt-động du-lịch.

Động Phong Nha là nơi mà các nhà nghiên-cứu khoa-học, thám hiểm hay khách du-lịch không thể bỏ qua. Ngoài ra, Quảng B́nh c̣n có biển Đá Nhảy, biển Nhật Lệ, hồ Bản Tro, Đèo Ngang, thành Đồng Hới.

 

 

H́nh 81. Bản-đồ tỉnh Quảng-B́nh

 

Giấu ḿnh trong núi đá vôi Kẻ Bàng, được tre trở bởi những cánh rừng nhiệt-đới, Động Phong Nha giờ đây đă trở nên nổi tiếng nhờ tạo hoá đă ban tặng cho một hệ thống hang động thật lộng lẫy với con sông ngầm được xác định là dài nhất thế-giới.

Tháng 4-1997, một cuộc hội thảo khoa-học về di-tích danh thắng Phong Nha - Xuân Sơn được tổ-chức tại Quảng B́nh. Kết quả nghiên-cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:

1. Hang nước dài nhất

2. Cửa hang cao và rộng nhất

3. Băi cát và đá rộng đẹp nhất

4. Hồ ngầm đẹp nhất

5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất

6. Ḍng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13.969 m)

7. Hang khô rộng và đẹp nhất.[133]

 Năm 2002, Việt-Nam đă đề-nghị đệ tŕnh UNESCO xin công nhận Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới.

Phía Cực Bắc của tỉnh Quảng B́nh có một mũi đất nhô ra biển, rải rác mấy ḥn đá trơ trọi, trên bản-đồ hàng-hải không thấy có đề tên.

Cảng Sông Gianh có thể nhận tàu 1,000 tấn. Cảng Nhật Lệ có thể nhận các tàu nhỏ 200 tấn. Trong năm 1998, 57,000 tonnes de marchandises ont transité par ces deux ports.

 

3.25 - Quảng Trị

Diện-tích: 4,588 km2

Dân số (1999): 573,331 người.

Là một tỉnh miền Trung, nằm trung điểm cả nước, ở ngă ba ra Bắc, vào Nam và sang Lào, Thái Lan. Tỉnh có tới 3/4 là đồi núi, cồn cá nghèo nàn khoáng-sản, bờ biển dài, sông ng̣i chằng chịt, dốc, khả-năng thoát nước chậm-chạp, đất nông-nghiệp ít.
Khí hậu khắc nghiệt, nghèo nàn khoáng-sản, bờ biển dài, sông ng̣i chằng chịt, dốc, khả-năng thoát nước rất chậm. Cả Tỉnh có 2 thị xă là Đông Hà, Quảng Trị và 6 huyện là Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải-Lăng, Hương Hóa.

Lợi thế so-sánh của Quảng Trị trong phát-triển du-lịch là bờ biển dài, có 2 cảng biển và cảng sông, có sân bay đang được xây-dựng lại, có đường sắt, đường quốc lộ 1A chạy qua. Đặc biệt đường 9 nối với đường Liên-Á qua cửa khẩu Lao Bảo - Huội Kaki sẽ tạo điều-kiện cho Quảng Trị là nơi nhận và phát luồng khách du-lịch đường bộ quan-trọng.

Tiềm-năng du-lịch nhân văn của Quảng Trị nổi trội hơn cả với nhiều công-tŕnh kiến-trúc lịch-sử, văn-hóa được bảo-tồn như Thành cổ Quảng Trị, văn-hóa Chăm, khu Thánh địa La Vang... Quảng Trị là một chiến trường ác liệt trong trận chiến tranh vừa qua. Địa-danh nổi tiếng thế-giới là cầu Hiền Lương, Cửa Tùng, vĩ tuyến 17, Cửa Việt, Cổ-thành Đinh-Công-Tráng ...

Từ băi biển Cửa Tùng thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nh́n ra phía Đông ta sẽ thấy một ḥn đảo xanh lam nổi lên giữa biển như một chiến hạm đang trấn giữ ngoài khơi. Đó là đảo Cồn Cỏ, các tên khác là đảo Con Hổ, Ḥn Mê.

 

 

nh 82. Bản-đồ tỉnh Quảng-Trị

 

Quảng-Tri không có hải-cảng thiên-nhiên tốt. Hai cảng quan-trọng nhất của tỉnh nằm trên hai cửa sông có khả-năng hạn-chế như sau:

- Cảng Cửa Việt, có khả-năng nhận 200,000 tấn hàng hóa mỗi năm.

- Cảng Đông Hà với cầu tầu sẽ nhận tàu thuyền có trọng-tải tối-đa là 500 tấn trở lại.

 

3.26 - Cầu Long-Biên và Huyền-thoại 

            Qua một thế-kỷ nhiều biến-cố lịch-sử, Miền Bắc Việt-Nam đă thực-hiện nhiều công-tŕnh xây cất lớn không thể nào kể hết được. Ngoài việc kiến-tạo hệ-thống cảng đă mô-tả đâu đó trong cuốn sách, ở đây chúng tôi chỉ xin duyệt qua một vài xây cất đặc biệt ở đầu mốc và cuối mốc thời-gian kể trên mà thôi.

            Nhiều tài-liệu trong cũng như ngoài nước thường ghi kỹ-sư lừng danh Gustave Eiffel (1832-1923) là cha đẻ của cầu Long Biên. Theo tiểu-sử của Ông đăng trong gia-phả họ Eiffel của hội “l’association réunissant les descendants de Gustave Eiffel[134] th́ Gustave Eiffel không liên-hệ ǵ tới cây cầu “lịch-sử của nước ta. Tài liệu của Cục Lưu trữ Việt Nam cũng như tấm biển gắn ở đầu cầu bờ nam đều đúc nổi tên hãng thiết kế Daydé & Pillé (D&P). Hăng này đã trúng thầu với giá 5.390.794 franc.

Sự nhầm lẫn xảy ra có thể là do việc hãng Eiffel có gửi mẫu kiến-trúc tham gia, nhưng Eiffel là 3 trong số 5 hãng bị loại ngay vòng đầu tiên. 

Cách đây hơn 100 năm, ngày 28/2/1902, chuyến xe lửa xuất phát từ ga Hàng Cỏ đưa vua Thành Thái, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, nhà vua Malaysia, hoàng gia Campuchia, đô trưởng Viên Chăn (Lào) tới làm lễ khánh khánh thành cầu Long Biên, cây cầu lớn nhất Đông Dương.

Cầu Long Biên dài 2.500 m, rộng 30,6 m, có một đường sắt và hai làn đường bộ. Độ cao móng nổi từ mặt nước đến mặt cầu là 44 m, ngập nước 30 m. Phần cầu vượt phía nội thành dài 800 m, gồm 20 trụ đá nối với nhau bằng 9 dầm sắt khổng lồ, mỗi dầm dài 61 m. Toàn bộ 30.000 m3 đá và 5.300 tấn thép cùng các vật liệu khác, kể từ viên sỏi, viên đá xanh... đều được vận chuyển từ Pháp sang[135].

H́nh 83. Cầu Long Biên năm 1925.

 

Đầu thế kỷ 20, Long Biên là cây cầu lớn và đẹp nhất khu vực và là một trong 4 cầu lớn nhất thế giới.

            Khi cả Hà Nội mới có duy nhất cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, mọi phương tiện ôtô, tàu hỏa, xe máy, xe thô sơ, khách bộ hành đều đi chung trên cây cầu này. Mỗi lượt qua lại phải xếp hàng cả giờ đồng hồ.

 

H́nh 84. Cầu Long Biên hiện tại. (ảnh: Xuân Thu)

 

Từ khi có thêm hai cầu Thăng Long, Chương Dương, cầu Long Biên chỉ còn dành riêng cho người đi bộ và xe thô sơ. Cũng vì thế, cầu được đặt thêm một tên mới: cầu của người nghèo. ở tuổi 100, hiện mỗi ngày cầu Long Biên gồng mình gánh khoảng 35.000 lượt người với hàng chục nghìn lượt xe thô sơ và tàu hỏa qua lại.

H́nh 85. Vị-trí 3 cây cầu Long-Biên, Chương-Dương và Thăng-Long (quanh Hà-Nội) nối tả-ngan với hữu ngạn Sông Hồng

 

Việc nâng cấp cầu Long Biên sẽ được tiến hành trong năm nay với tổng kinh phí 70 triệu USD. Số tiền này được vay từ vốn ưu đãi và viện trợ của Chính phủ Pháp hoặc vốn ODA Nhật Bản. Dự kiến cầu sẽ có 4 làn xe cho ôtô, phần dành cho đường sắt sẽ cải tạo thành đường cho người đi bộ.[136]

 

H́nh 86. Cầu Long Biên hồi đầu thế-kỷ 20

 

3.27 - Người thợ Việt Nam Xây “Cầu nối 3 Thế-kỷ”

            Vào tháng 4-1897, sau khi nhậm chức hai tháng, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer[137] đă phê chuẩn dự án xây cầu bắc qua sông Hồng. Cây cầu mang tên Pháp Paul Doumer, tên Việt Long-Biên, cần-thiết cho việc vận chuyển bằng đường bộ và tàu hoả từ Hà Nội xuống cảng Hải Pḥ̣ng, lên Lạng Sơn, Lào Cai sang tận Côn Minh. Hàng từ Vân-Nam theo đường sắt tới Hà-Nội cũng theo cầu này ra tàu biển…

Có nhiều câu chuyện về những người thợ cầu Việt Nam thời đó. Trong  cuốn hồi kư của Ông, Paul Doumer đă có những ḍ̣ng viết trân trọng về họ: "Những người thợ An Nam xây trụ cầu ngồi trong các két sắt đi xuống nước như những con tàu dấn sâu vào đáy sông rồi sau đó th́ vào vùng khí nén, nơi đó sâu tới 30 -33m, sự làm việc trở nên khó nhọc đến mức kinh khủng. Những người thợ Việt (An Nam) mảnh khảnh xuống đến độ sâu như thế nhưng họ không hề sợ hăi, thản-nhiên làm việc. Rồi những thanh thép được đưa sang lại cũng chính là những người thợ Việt lắp ráp. Lúc đầu, người ta tuyển phần lớn là người Tàu, tưởng rằng họ khoẻ hơn người Việt nhưng dần dần chính những người Tàu ấy lại được thay thế bằng người Việt-Nam. Nếu họ có kém sức hơn một chút nhưng ngược lại họ lại năng động hơn, tinh nhanh khéo léo…". Cây cầu dự định sẽ phải xây dựng trong 5 năm nhưng do nhà thầu và thợ giỏi nên chỉ hơn 3 năm (12/9/1898 - 28/2/1902) đă được hoàn thành.[138]

Đến nay cây cầu đó sau hơn một trăm năm vẫn tồn tại, vắt ngang ba thế kỷ.

 

3.26 - Hệ-thống Thủy-điện Việt-Nam, Nay và Mai

            Không những là một nước nghèo so với thế-giới tiến-bộ mà c̣n sau chân ngay cả những quốc-gia vùng Đông-Nam-Á, Việt-nam chỉ mới bắt đầu đạt được vài thành-quả điện-lực-hóa quốc-gia vào cuối thế-kỷ thứ 20..

 

 

H́nh 87. Hệ-thống Thủy-điện Việt-Nam, nay và mai.

 

Chương-tŕnh năng lượng mới của Việt-Nam bao gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thủy điện nhỏ, năng lượng thủy triều.. Trong thời gian đầu Việt-Nam đă tập trung vào năng lượng mặt trời để sấy các sản phẩm nông nghiệp cao cấp, đun nước nóng, tiếp thu các thành quả nghiên cứu về tế bào quang điện, nghiên cứu chế tạo các thiết bị sử dụng điện mặt trời (inverter, low energy demand light)... Tuy vậy, vào đầu thế-kỷ 21, ngành thủy-điện vẫn là nguồn cung-cấp năng-lượng chính-yếu cho cả nước. 

 Theo tính toán của Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN), với tốc độ đầu tư và tăng trưởng phụ tải điện như hiện nay, trong ṿng 3 năm nữa sẽ xảy ra hiện tượng thiếu điện trong cả nước. Để bảo đảm không xảy ra thiếu điện, Việt-Nam đă dự-trù xây-dựng thêm các nhà máy điện: Rào Quán, Plei Krông, Sê San 4, Knak, An Khê, Đồng Nai 3 và 4, Thượng Kon Tum, nhiệt điện Hải Pḥng, Quảng Ninh và nâng cấp nhà máy nhiệt điện Phả Lại 1.

Trong tương-lai gần, viêc khai-thác những nguồn năng-lượng thiên-nhiên ngoài Vịnh Bắc-Việt như từ gió, nước biển, thủy-triều xem ra chưa được quan-tâm đến. Theo Giáo-Sư Lê-Bá-Thảo, Nhà Nước Việt-Nam có chính-sách liên-tục phát-triển thủy-điện trên toàn lănh-thổ. Các nhà khoa-học thuộc Viện Phát-triển Quốc-Tế Harvard, trong khi cân-nhắc giữa khí và thủy-điện Việt-Nam, có ư-kiến cảnh-giác rằng “chính-sách dựa quá nhiều vào nguồn thủy-điện sẽ không khuyến-khích được hoạt-động thăm-ḍ và sản-xuất khí. Chính-sách Nhà Nước là phải phát-triển đồng-bộ và có cân nhắc tất cả các nguồn tài-nguyên[139].


 

Chương 4

Vịnh Bắc-Việt, Nơi Khai-nguyên Hàng-Hải

 

4.1 - Văn-minh và Hàng-hải

Người khen nâng lên, kẻ chê đạp xuống; sự đánh giá văn-hóa Việt-Nam cổ thời rất là khác-biệt. Đă có nhiều người cho rằng căn-bản của dân ta quá thấp kém. Thí-dụ như trong cuốn sách “Tổ Quốc Ăn Năn”, tác-giả Nguyễn Gia Kiểng đă nhận-xét như sau:"…chúng ta có lẽ là nền văn minh phù sa muộn nhất… dấu ấn của nền văn minh phù sa: cần cù, nhẫn nại, nhưng thủ cựu, thiếu sáng kiến và thiếu óc mạo hiểm. Ông cho rằng tổ tiên của chúng ta qua nhiều ngàn năm, tuy sống bên cạnh biển, mà chỉ nh́n biển với cặp mắt sợ hăi, không sáng chế ra kỹ thuật hàng hải nào cả.[140]

            Chúng tôi đồng-ư với Ông Kiểng là thế-hệ chúng ta có thể “thủ cựu, thiếu sáng kiến, thiếu óc mạo hiểm, và ... sợ biển”, thế nhưng tiền-nhân chúng ta th́ không. Một số chứng-cớ sau đây góp phần “biện-hộ” cho người xưa  đă “không sợ biển” và nhiều ít vinh-danh những đóng góp to lớn của Ông Cha chúng ta trong kỹ-thuật hàng-hải. Đặc-biệt đáng nhấn mạnh ở đây, hầu hết các công-tŕnh phát-minh hàng-hải đều đă được thực-hiện bên bờ Vịnh Bắc-Việt và Biển Đông.         

 

4.2 - Tiền-nhân chúng ta sống ngoài biển thời Băng Đá

Trong lịch-sử trái đất, mực nước biển đă dâng lên hạ xuống nhiều lần, sự sai-biệt có tới 150m. Cách nay chừng 18,000 năm, diện-tích Biển Đông chỉ bằng phân nửa hiện nay. Dân-cư vùng duyên-hải vốn sống bằng cách thu-lượm tôm cá, ṣ ốc. William Meacham[141] khi nghiên-cứu bản-đồ địa-h́nh đáy biển, cho biết lúc xưa bờ Biển Đông tương-đối bằng phẳng nhưng bị sông, hồ nước chia cắt khắp nơi[142]. Khoảng 14,000 năm trước đây, bè tre đă xuất-hiện như phương-tiện di-chuyển chính-yếu.

 

H́nh 88. H́nh-thể Biển Đông với các đồng-bằng thời Băng-đá  Theo ư-kiến của một số nhà khảo-cổ, dân-cư của vùng Nanhai, Sunda sinh sống trong môi-trường hàng-hải[143])

 

Nhà khảo-cổ Malcolm F. Farmer, trong khi đi t́m nguồn gốc thuyền bè, đă thấy rằng Vịnh Bắc-Việt là nơi có chứng-cớ nhiều truyền-thống liên-hệ nhất giữa những loại bè thời cổ với thuyền độc-mộc và với các ghe thuyền kiến-trúc có sườn, có khung sau này. Farmer cho rằng chính trên các loại bè này, người ta đă phát-minh cánh buồm đầu tiên. Chắc chắn "Bè có trang-bị Buồm" là phương-tiện viễn-duyên đầu tiên của nhân-loại. [144]

Rồi qua thời Hậu Băng-Đá[145], nước biển cứ cao dần. Khi mực nước biển gần đạt đến mức-độ như hiện nay, chừng -25m, bờ biển đă lùi sâu vào lục-địa, gặp đúng chỗ địa-thế lởm chởm, lồi lơm. Nhiều nhóm người sống trên các hải-đảo. Sự liên-lạc, di-chuyển bằng thuyền bè trở nên càng ngày càng cần-thiết hơn.

H́nh 89. Bờ biển xứ ta lúc xưa phẳng-phiu chia cắt bởi nhiều sông, hồ, nay lởm chởm lồi lơm.

 

Các trở ngại, khó khăn trên biển đă thúc-đẩy con người phải phát-minh ra những cánh buồm, những bánh lái, những loại thuyền nhiều thân và những cơ-phận điều-khiển khác để việc hải-hành được an-toàn hơn, tránh bị thổi ra ngoài khơi[146]. Meacham tin rằng 6,000 - 4,000 năm trước Tây-lịch, những nền văn-minh vùng châu-thổ sông Hồng bắt đầu nảy nở. Đồ gốm đă được nặn trên bàn xoay ở Đậu-Dương. Khoa khảo-cổ cũng t́m thấy dây câu, lưới bắt cá và thuyền độc-mộc. Phần lớn  dân-cư sống bằng ngư-nghiệp. (4,000 năm TTL..). Nhiều người đặc-biệt thích-nghi với môi-trường nước, một số nhỏ hơn sống suốt đời trên bè, trên ghe. Một vài nhóm trở thành những bộ-lạc hải-du.[147]

4.3 - Môi-trường Độc-nhất thời Băng Đá tạo Sinh-hoạt hàng-hải

            Vùng Đông-Nam-Á nói chung và vùng Vịnh Bắc-Việt nói riêng là nơi duy-nhất trên thế-giới đă trải qua nhiều cuộc biến-chuyển mạnh mẽ về địa-lư và nhân-văn đặc-biệt ảnh-hưởng bởi môi-trường nước.

Một số nhà nghiên-cứu cho rằng sự thay đổi về địa-lư Biển Đông không những chỉ làm thay đổi môi-trường sinh-sống của sinh, thực-vật trên đất, dưới biển trong vùng mà c̣n tạo-dựng lên cả một cuộc biến-đổi to lớn làm phát-sinh những nền văn-minh quan-trọng về nông-ngư-nghiệp cùng hàng-hải có thể gọi là tiền-tiến của nhân-loại.

Tài-liệu mới nhất là cuốn “Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia” của Bác-Sĩ Stephen Oppenheimer, xuất bản tại Anh Quốc năm 1999. Dựa trên những kiến-thức cập nhật mới đây của các ngành khoa-học như di truyền học, nhân chủng học, thần thoại, văn học dân gian, ngôn ngữ học, hải dương học, khảo cổ học... để cho ra đời một cuốn sách làm cho nhiều nhà nghiên cứu Đông Nam Á học và khảo cổ học phải ngẩn ngơ... Có người c̣n cho rằng đây là một quyển sách quan trọng vào bậc nhất trong ngành Đông Nam Á học![148]

Chính tác-giả Oppenheimer đă viết: "Lư thuyết mà tôi tŕnh bày trong cuốn sách này. lần đầu tiên, đặt Đông Nam Á vào trung tâm của các nguồn gốc văn hóa và văn minh. Tôi cho rằng nhiều người đă phải di tản khỏi vùng duyên hải của họ ở phương Đông v́ lụt lội. Những người tỵ nạn này từ đó vun đấp những nền văn minh vĩ đại ở phương Tây."

Đă có nhiều nhà khoa-học cố gắng giải-thích sự h́nh-thành nền văn-hóa hàng-hải của dân Việt nói riêng và của dân Đông-Nam-Á nói chung. Những sắc-thái đặc-thù này khác-biệt hẳn với sắc-thái văn-hóa hoàn-toàn lục-địa của Trung-Hoa.

 

4.4 - Sự phân-tán văn-minh theo đường hàng-hải

Lư-thuyết Norman cho rằng một số lớn dân Đông-Nam-Á khởi-sự trước hết bằng cuộc sống ở duyên-hải[149], sau này hội-nhập với dân-cư vùng cao-nguyên nhưng rồi trở về lại vùng đồng-bằng gần biển, tiếp-tục phát-triển nghề hàng-hải.

Wilheim G. Solheim cho rằng 6,000 năm trước, dân Đông-Nam-Á đă mạo-hiểm ra khơi v́ nhu-cầu di-chuyển. Gió băo và hải-lưu của Biển Đông và Thái-b́nh-Dương đă cuốn trôi một số người tới Nhật-Bản, trong khi các nhóm khác bị quét sang Phi-luật-Tân, Nam-Dương và Melanesia. Tiếp theo, những toán dân-chúng di-chuyển tới các đảo ngoài khơi Thái-b́nh-Dương và sang Madagascar.

 

H́nh 90. Thuyết Buckminster Fuller về Hải-lộ phân-tán dân-cư. Khi nước biển dâng cao, từ Biển Đông di-dân đi ra khắp nơi theo các giai-đoạn phát-minh thuyền bè, buồm, xiếm...

 

Bàn rộng hơn thế nữa, cũng theo Solheim, Biển Đông của Đông-Nam-Á thời cổ c̣n là nơi phát-sinh những đường hàng-hải giao-tiếp với các nơi ở dọc biển Á-châu, Âu-châu, Phi-châu, Đại-dương-châu và cả Mỹ-châu. Solheim lư-luận rằng chỉ có sự kiện Đông-Nam-Á giữ vai-tṛ trung-tâm phân-tán như trục một cái bánh xe tỏa nan-hoa ra khắp nơi mới giải-thích được hiện-tượng lịch-sử là tại sao các chủng-tộc khác-biệt của loài người sống xa cách nhau trên khắp thế-giới lại có nhiều sự tương-đồng về sinh-hoạt văn-hóa như vậy![150]

Cùng nhận-định như Solheim nhưng đi trước ông tới 40 năm, nhà ngữ-học Pháp Paul Rivet đă làm nhiều cuộc nghiên-cứu và kết-luận rằng: "Từ vùng Đông-Nam Á-châu, một thứ ngôn-ngữ đă được truyền-bá đi bằng đường hàng-hải đến Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-hải, Phi-châu và Mỹ-châu".[151]

 

H́nh 91. Quan-niệm truyền-bá ngôn-ngữ ĐNÁ đi khắp thế-giới theo đường hàng-hải, khởi-sự từ Biển Đông (Paul Rivet, 1929.)

 

Carl Sauer duyệt-xét những biến-chuyển về địa-lư Biển Đông trong thời-khoảng mười mấy ngàn năm trước đây, đưa ra kết-luận về tinh-thần tiến-bộ của cư-dân người Việt (Yüeh) thời cổ như sau: "Mực nước Biển Đông dâng cao làm tăng thêm nhịp bồi-đắp phù-sa lên những khu thung-lũng duyên-hà trong khi các vùng đất thấp tiếp-tục bị lụt. Dân-cư khi xưa sống rải rác th́ lúc này thu lại thành các vùng cư-trú dọc theo nguồn nước... Một thế-giới mới đă thành-h́nh, sự thay đổi môi-trường vật-lư địa-dư đă trở thành cơ-hội thuận-tiện tối đa cho những dân thích phiêu-lưu và mong tiến-bộ... Người dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí-óc ṭ-ṃ để t́m thử-nghiệm, một cộng-đồng như vậy chỉ cần một thời-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng nông-nghiệp.[152]

Cùng với Meacham, Sauer ư-thức tầm quan-trọng của ngư-nghiệp và hàng-hải trong tiến-tŕnh văn-minh Đông-Á thời cổ. Khác biệt hẳn với các nơi khác trên thế-giới, Biển Đông và vùng đất chung-quanh có tới hai vụ gió mùa trong một năm, nên hoàn-cảnh rất thuận-lợi cho sự phát-triển các ngành nông-nghiệp, ngư-nghiệp và hàng-hải.[153]

V́ Biển Đông có hai mùa gió nên việc hải-hành viễn-duyên khi đi cũng như khi về rất tiện-lợi. Hàng-hải phát-triển kéo theo sự bành-trướng thương-mại. Sự trao đổi hàng-hóa nâng cao kỹ-thuật chế-tạo phẩm-vật và phương-tiện giao-thương.

Charles F. Keyes viết trong sách "The Golden Peninsula"[154] rằng Việt-Nam là nơi phát-khởi nền văn-minh Hoà-B́nh trải rộng khắp Đông-Nam-Á. Keyes đă xác-định hai điểm sau:

- Quá-tŕnh văn-hóa thời tiền-sử của toàn vùng Đông-Nam-Á thường được chia ra làm những giai-đoạn mà chỉ-danh từng giai-đoạn lấy từ địa-danh các vị-trí khảo-cổ tiêu-biểu nhất như Ḥa-B́nh, Bắc-Sơn, Đông-Sơn; tất cả đều nằm trong Bắc-phần Việt-Nam (trang 182.)

- Thời-đại Đồ Đồng xuất hiện vào khoảng 3,000 đến 2,500 năm TTL. ở Đông-Nam-Á, nghĩa là khởi-sự sớm hơn Trung-Hoa và Ấn-Độ. Biểu-tượng chính của nền văn-minh này là những Trống Đồng t́m thấy ở nhiều nơi xa xăm như Fores, Sulawesi thuộc Nam-Dương quần-đảo. Những trống đồng như vậy đều được đúc tại vùng đất Đông-Sơn nhỏ hẹp của Việt-Nam, từ đó trống được phân-phối đi khắp Đông-Nam-Á theo đường hải-thương (trang 16.)

Nằm cạnh bờ Vịnh Bắc-Việt, nền văn-minh Đông-Sơn không những chi-phối các sinh-hoạt con người toàn vùng Đông-Nam-Á mà c̣n ảnh-hưởng xa hơn, ra các đảo Thái-B́nh-Dương và đến cả Mỹ-Châu. Điều cần-thiết phải nhấn mạnh là Đông-Sơn, đặc-biệt hơn một số các nền văn-minh khác ở chỗ nó nhuốm mầu sắc hàng-hải, hướng về biển cả hơn là đất liền. Cũng nhờ đó, Đông-Sơn trở thành một trong các nền văn-minh có địa-bàn rộng răi bao la nhất trong lịch-sử nhân-loại. Cho dù các văn-minh Cận-Đông, Ai-cập, Ấn-Độ, Trung-Hoa, Hy-Lạp, La-Mă... có chói sáng, có vĩ-đại mấy đi nữa; cũng chưa bao giờ được kể là đă đi xuyên đại-dương, vượt ngang qua nhiều đại-lục.

 

H́nh 92. Trống Đồng ghi-dấu khắp nơi ở Đông-Nam-Á (Trống Đông-Sơn, Viện Khảo Cổ Học, Hà Nội 1987, trang 131.)

 

Trong học-thuyết về nền văn-hóa Đông Sơn, Victor Golubev[155] nói đến ảnh hưởng của nó ra các khu-vực lân cận. Ông nêu rơ các dấu tích ảnh hưởng của nền văn-minh Đông Sơn cổ ở những quốc-gia miền Nam và vùng ven biển Trung Quốc, quần-đảo Nhật Bản, ở các dân-tộc Nam Đảo châu Đại Dương. Là người ủng hộ tư tưởng về những cuộc tiếp xúc văn-hóa rộng lớn thời cổ, ông kiên tŕ nhấn mạnh nguồn gốc bản-địa của nền văn-hóa Đông Sơn. Trong cuộc tranh luận với E. Gaspardone, ông đă bác bỏ quan điểm chủ đạo trong ngành Hán-học Pháp rằng, dụng-cụ bằng kim-loại, cũng như nhiều đặc trưng khác của nền văn-minh và văn-hóa Trung Hoa, mới du nhập vào Việt-Nam sau khi nhà Hán xâm chiếm được đất Việt.[156]

 

4.5 - Ghe Thuyền Việt-Nam Kỹ-thuật cao trong Cổ-thời

Nhiều nhà nghiên-cứu hàng-hải Âu Mỹ đồng-ư với quan-điểm của Clinton R. Edwards rằng bờ biển Việt-Nam, đặc-biệt vùng Vịnh Bắc-Việt và Hoa-Nam chính là nơi quy-tụ nhiều kiểu ghe thuyền phong-phú hơn bất cứ nơi nào khác trên thế-giới. Kiến-trúc Tàu bè Việt-Nam rất độc đáo và đă đạt đến tŕnh-độ kỹ-thuật cao ngay từ cổ-thời.

Edwards cho rằng những Người Biển (Orang Laut) ở Đông-Nam-Á thuộc những bộ-lạc Hải-du (Sea nomads) phát-triển truyền-thống hàng-hải trước khi chính họ mở mang nông-nghiệp.[157]

Tuy vậy nhân-loại ít lưu-tâm tới quá-tŕnh hàng-hải đó nếu như trong khoảng bốn thập-niên trở lại đây không có phong-trào nghiên-cứu những giao-tiếp Á-Mỹ trước thời Kha-Luân-Bố[158]. Một trong những học-giả uy-tín nhất là Robert Heine Geldern đă nhận ra nhiều mối liên-hệ văn-hoá giữa Mỹ-Châu và bờ biển Á-Đông mà trong đó nền văn-hoá Đông-Sơn của Việt-Nam rất đậm nét.[159] V́ giao-tiếp chỉ có thể thực-hiện được bằng đường biển nên người ta cần t́m hiểu kỹ-thuật kiến-trúc ghe thuyền. Đó là lư-do thúc đẩy các nhà xuất-bản cho in các cuốn sách nghiên-cứu mới và tái-bản những sách cũ mà tài-liệu liên-hệ đến nền hàng-hải cổ-thời của Việt-Nam.[160] 

 

4.6 - Người Việt Tiên-phong về Kiến-trúc Ghe thuyền

            Chúng tôi đă điểm qua các thuyết về quá-tŕnh hàng-hải của dân ta. Nếu quả thực như vây, chúng ta phải t́m kiếm xem dân ta đă phát-minh và hoàn-thiện ghe tàu như thế nào th́ mới hoàn-toàn thuyết-phục được mọi người.  

Nói về những thành-quả phát-minh của người Việt trong công-tác kiến-trúc thuyền bè, người ta sẽ phải viết rất nhiều. Đề-tài này chưa được nhiều người Việt-Nam nghiên-cứu và viết thành sách. Riêng chúng tôi trong khi đi t́m ra những điểm mốc căn-bản cho kỹ-thuật hàng-hải thời cổ, đă thấy rằng nhân-loại nói chung đă đi từ khúc cây làm bè, chuyển dần qua thuyền, cải tiến buồm để di-chuyển mọi hướng (quan-trọng nhất là đi chếch ngược với hướng gió) và có lẽ sau cùng nghĩ ra cách vận-chuyển (lái) thuyền tự-động (không cần người lái). Những mốc bức-phá quan-trọng nhất về hàng-hải đúng là đă xảy ra tại Biển Đông (mà cái nôi là Vịnh Bắc-Việt).

Sau đây, chúng tôi xin lược-kê các phát-minh được thực-hiện bởi tiền-nhân người Việt chúng ta, như sau:

- Chế-tạo bè tre gồm những cây tre có đặc-tính nổi tự nó. Bè tre không giống ghe thuyền phải tạo ra khoảng không-gian kín nước mới nổi được. Sự kết hợp các cây tre tạo tác-dụng như những thuyền nhiều thân mang lại sự bền-vững (Moment cân-bằng là bội-số gia-tăng theo số các thân thuyền).

- Phát-minh buồm để có thể sử-dụng được cả hai mặt (for and aft lugsail). Tiến-bộ của kỹ-thuật này giúp thuyền đi chếch ngược hướng gió.

- Phát-minh các ô kín nước (áp-dụng từ đặc tính tự nổi của (bè) tre) để gia-tăng sự an-toàn. Kỹ-thuật kiến-trúc mềm dẻo, làm thân thuyền thích-nghi với sóng gió.

- Phát-minh bánh lái đặt ở đuôi trục giữa thuyền giúp thuyền vận-chuyển dễ-dàng và chính-xác hơn.

- Phát-minh cây xiếm, phối-hợp xiếm với buồm để thuyền tư-động lái theo một hướng cố-định với hướng gió. 

 

4.7 - Khả-năng Đi Biển của Bè Tre Việt-Nam

            Theo Malcolm F. Farmer, không những bè mảng là thứ "phương-tiện nổi" đầu tiên được trang-bị buồm; bè mảng c̣n là tiền thân của các loại ghe thuyền có nhiều khoang kín nước ngày nay.[161] 

- Bè tre tự nó, theo kiến-trúc là một loại phương-tiện nổi gồm nhiều ngăn kín nước là những lóng tre. Người Việt là giống dân độc-nhất sử-dụng đủ các loại tre, bương, luồng… trong mọi kiến-trúc ghe thuyền.

Stephen C. Jett, một học-giả uy-tín chuyên kháo-cứu về khả-năng vượt biển của nhân-loại về cổ-thời, đă phát-biểu trong bài "Diffusion versus Independent Development" như sau:"...sức tác-dụng của sóng gió tăng theo với quán-tính của những con thuyền nặng nề và do đó cũng làm cho nó dễ bị bể vỡ hơn. Một con thuyền hay một chiếc bè nhỏ bé nhưng kiến-trúc tốt, dễ dàng hoàn-tất việc vượt đại-dương. Đặc-biệt tốt hơn nữa nếu kiến-trúc lại mềm dẻo, tỷ như các loại bè ghép bằng cây tre và loại thuyền kết bởi ván gỗ (flexible construction as lashed-log rafts and sewn-plank boats)[162]...". Đặc-tính kiến-trúc và cả hai loại bè và thuyền ưu-việt kể trên đồng-thời đều hiện-hữu tại Việt-Nam.

 

4.8 - Phát-minh Bánh lái

            Một mẫu thuyền bằng đồ gốm, có đầy đủ bánh lái và trục bánh lái nằm giữa đuôi thuyền được t́m thấy ở Quảng-Châu, gần kinh-đô Phiên-Ngung của nước Nam-Việt trong thời nhà Triệu (thế-kỷ thứ nhất TTL.) Phát-minh quan-trọng về lái tàu đă khởi-sự trước đó 6 thế-kỷ trước thời-gian này. H́nh-ảnh bánh lái đă xuất-hiện trên trống đồng Đông-Sơn. V́ vùng Quảng-Châu là đất những người người Việt cổ sinh sống trước kia, nên người ta t́m ra mẫu thuyền có bánh lái ở đó.

            Cùng suy-luận như vậy, Per Sorensen cho rằng quan-sát những h́nh thuyền trên trống đồng, người ta nhận thấy có sự cải tiến kỹ-thuật bánh lái theo thời-gian. Trên trống loại OB 89 (Tam Ongbah, Thái-Lan), bánh lái như được gắn vào một cái trục ở đuôi thuyền. Trên trống Hữu-Chung (Việt-Nam), bánh lái được thiết-trí tương-tự như một số ghe thuyền ngày nay. Những thay đổi này đă mở đường cho những khả-năng hải-hành ngoài biển rộng.[163]

            Ảnh-hưởng to lớn đến ngành hàng-hải như vậy mà chỉ được người Âu-Châu biết đến và áp-dụng vào thế-kỷ thứ 12. Một số sử-gia cận-đại phát-biểu rằng chiếc bánh lái sau khi gắn vào đuôi Tàu Tây-phương đă đẩy mạnh thời-đại thám-hiểm cùng khám-phá đất lạ và dĩ-nhiên sau đó, bành-trướng chế-độ thuộc-địa. Văn-minh Tây-phương, thường được gọi là "Rise of the White" bắt đầu bộc-phát mạnh cũng từ đấy.

H́nh 93. Bánh lái trên thuyền Quảng-Châu với phần ghi chú "không phải của người Tàu " (China's Civilization, Arthur Cotterell & David Morgan, New york, 1975.)

 

H́nh 94. Trang-cụ kiểu bánh lái được gắn nơi lái các thuyền Đông-Sơn (700 năm trước Tây-Lịch).

           

Theo những khám-phá kể trên, từ thời văn-minh Đông-Sơn, dân Việt chúng ta đă phát-minh ra cách-thức điều-chinh độ sâu của các bánh lái và cây xiếm. Đến nay, những trang-cụ độc-đáo này c̣n sử-dụng trên các loại bè vùng từ cửa sông Thái-B́nh đến bờ biển miền Trung, trên các ghe bàu, ghe nang,... chạy khắp nơi trong nước.

 

4.9 - Chế-tác buồm đi trước thời-đại

            Một số khoa-học-gia, trong đó có Edwin Doran Jr., Christian J. Buys & Sheli O. Smith đă nghiên-cứu và phát-hiện rằng cánh buồm đầu tiên xuất-hiện giữa vùng Biển Đông (Việt-Nam / Đông-Dương) và New Guinea.[164] Đồ gốm và đá mài t́m thấy trên các đảo trong vùng này chứng-minh những giao-tiếp bằng đường biển đă xảy ra trước khoảng thời-gian 1500 TTL. (Doran, 1973: trang 49.) Khuynh-hướng chung ngày nay đă xác-nhận rằng đồ gốm, đá mài và các tiến-triển văn-minh đầu-tiên đă khởi đi từ vùng b́a lục-địa tại Việt-Nam.

            Khảo-cổ-học tuy xác-nhận buồm h́nh chữ-nhật đă có ở Ai-cập 4,000 năm TTL nhưng cũng cho biết dáng vẻ ấy ít thay đổi suốt mấy ngàn năm sau đó. Thuyền Ai-cập có thể rất to lớn nhưng thường thường di-chuyển được nhờ mái chèo và chỉ hải-hành cận-duyên. Qua đến ngày tàn của đế-quốc này (khoảng 1,200 TTL), loại thuyền buồm thực-sự của người đảo Crete cũng như dân xứ Phoenicia mới xuất-hiện.[165]

Ở Á-Đông, người ta có thể thừa nhận trong khoảng thiên-kỷ thứ 4 hay thứ 3 TTL, người Đông-Dương (và những dân-cư Bách-Việt sống trên đất Tàu ngày nay) đă sử-dụng ghe thuyền đi biển.[166] Theo lẽ đương nhiên, bè mảng chạy buồm có khả-năng đi biển đă xuất-hiện trước khi ấy một thời-gian (Doran, 1971.)[167]

H́nh 95. Thuyền buồm Ai-cập.

 

 V́ người Tàu thời đó c̣n đang sinh sống trên thượng nguồn sông Hoàng-hà, rất xa biển; những thành-tích này hẳn nhiên phải do người Việt, lúc đó đang cư-ngụ ở vùng duyên-hải, thực-hiện. Các tác-giả trên đồng-ư rằng kỹ-thuật chạy buồm Á-Đông đă ảnh-hưởng sang Tây-phương, ngược lại với chiều-hướng suy-tưởng thông-thường.

 

H́nh 96. Thuyền Việt-Nam trang bị các loại buồm tứ-giác tiến-bộ nhất

 

            Nhà khảo-cổ Malcolm F. Farmer, trong khi đi t́m nguồn gốc thuyền bè, đă thấy rằng Vịnh Bắc-Việt là nơi có chứng-cớ nhiều truyền-thống liên-hệ nhất giữa những loại bè thời cổ với thuyền độc-mộc và với các ghe thuyền kiến-trúc có sườn, có khung sau này. Farmer cho rằng chính trên các loại bè, người ta đă phát-minh cánh buồm đầu tiên. Chắc chắn "Bè có trang-bị Buồm" là phương-tiện viễn-duyên đầu tiên của nhân-loại.[168]  

            Theo Robert Temple, tác-giả cuốn sách "The Genius of China, 3,000 years of Science, Discovery and invention"[169], sự tiến-triển vĩ-đại nhất về kỹ-thuật chạy buồm là ở chỗ người Á-Đông đă đi từ chiếc buồm đơn-độc, vuông-vức h́nh chữ-nhật chuyển sang loại buồm với những cây nẹp ngang, có thể trở mạn để đón gió ở cả mặt sau (fore and aft rig - lug sails) mà nhờ đó thuyền có thể chạy chếch ngược về hướng gió (to sail into the wind.) Ông cũng cho rằng :"Không ngoa khi nói rằng thế thượng-phong của Hải-quân Anh phần lớn nhờ ở t́nh-trạng sẵn sàng áp-dụng những phát-minh (Á-Đông) nhanh hơn các cường-quốc Âu-Châu khác".

Sách "Science and Civilization of China" quyển 4, mà tác-giả là 2 người Tàu (Wang Ling & Lu Gwei Djen) và một người Anh (Joseph Needham) đă trích-dẫn cuốn sách Nam-Châu Dị-Vật-Chí của Wang Chen và cho rằng "vào thế-kỷ thứ 3, Tàu thuyền ở Bắc và Bắc Trung-phần Việt-Nam đă rất tiến-bộ, chở được tới 700 người và 260 tấn hàng-hoá, mang bốn buồm không đặt thẳng một hàng dọc nên đón được nhiều gió từ những hướng khác nhau."[170]

 

H́nh 97. So sánh khả-năng chạy ngược gió của các loại buồm. Lưu ư  các thuyền Tây-phương thường chỉ chạy xuôi gió. Buồm Việt-Nam "fore and aft" giúp thuyền đi sát 45 độ so với hướng gió thổi tới.

           

4.10 - Kiến-trúc Mềm Dẻo

Phát-minh của người Việt trong công-tác kiến-trúc tàu bè đáng kể là ở sự mềm dẻo.

             Bà Françoise Aubaile-Sallenave viết nguyên cả một cuốn sách đề-cập rất kỹ-lưỡng đến cách-thức đóng ghe rất tiến-bộ của Việt-Nam[171]. Theo tác-giả này, hai đặc-tính tiên-quyết trong việc kiến-trúc là ghe Tàu phải nhẹ nhàng và có sức chịu đựng. Cả hai ưu-điểm này đều t́m thấy ở các loại thuyền Việt-Nam. Trong khi kỹ-thuật Tây-phương cố gắng cải-tiến làm sao cho sườn và vỏ Tàu được cứng cáp th́ người Việt-Nam từ nhiều ngàn năm qua, vẫn tiếp-tục giữ truyền-thống đóng tàu cho mềm dẻo. Bà Sallenave cũng như những kỹ-thuật-gia kim-thời mới đây đă khám-phá ra rằng muốn kiến-trúc cứng cáp th́ vật-liệu đóng thuyền phải nặng, quán-tính do đó cũng tăng theo, dễ bị bể vỡ v́ sóng gió; thuyền nhẹ và mềm dẻo th́ lực tác-dụng của sóng nước được phân-phối đều trên toàn thể thân thuyền nên sức chịu đựng gia-tăng và thuyền đươc bền bỉ hơn.

 

H́nh 98. So sánh Kiến-trúc Tàu thuyền Việt-Nam và Âu-Châu.

 

- Thuyền gỗ khâu. Cũng trong quan niệm kiến-trúc cổ-truyền và độc-đáo như trên, người Việt đă phát-triển khả-năng vượt bực trong việc chế-tạo nhiều loại thuyền không có cả khung hay sườn mà chỉ với một cách đơn-giản là kết những mảnh ván gỗ vào nhau bằng giây.Những mối giây này được kết vào bên trong nên phiá ngoài vỏ thuyền vẫn phẳng phiu.

            Pierre-Yves Manguin viết trong bài "Sewn-Plank Craft of South-East Asia - A Preliminary Survey" như sau: " Nhiều du-khách người Âu-Châu vào thế-kỷ thứ 17 và 18 đă đề-cập đến các thuyền của Việt-Nam bằng ván khâu lại với nhau. Thuyền này chạy biển hay cận-duyên, được gọi là Sinja (thuyền-gia), thường đi lại buôn bán với Thái-Lan và có nhiều tại Trung-phần Việt-Nam. Một vài chiếc chuyên chở tới 150 tấn hàng-hoá"[172].

            Manguin cho rằng kỹ-thuật đóng ghe loại này đă lan-truyền khắp các đảo Thái-B́nh-Dương qua đường hàng-hải. Nơi trang 338 của cuốn sách trên, tác-giả c̣n ước đoán rằng vào thời-gian người Ai-cập đóng chiếc Tàu cho hoàng-gia Cheops (2,600 TTL), dân Đông-Nam-Á khởi-sự hải-hành ra các đảo ngoài Thái-B́nh-Dương bằng thuyền, có thể phỏng-định là loại ván khâu rất đặc-biệt này.

            Loại ghe này được sử-dụng vài nơi trên thế-giới kể cả Nam-Mỹ, nhưng không ở đâu ghe đạt kỹ-thuật cao và trọng-tải lớn như tại Việt-Nam.

H́nh 99. Kiến-trúc thuyền ván khâu Việt-Nam, có loại chuyên chở được 150 tấn hàng-hoá.

 

- Thuyền đáy mê. Theo cuốn sách "Thanh-thư về Tàu thuyền cận-duyên miền nam Việt-Nam"[173], thuyền có đáy mê (nan tre) là loại thuyền thông-dụng nhất ở Việt-Nam. Hai lối kiến-trúc thường được dùng là đáy mê với mạn thuyền bằng ván be (thành gỗ) và vỏ thuyền hoàn toàn bằng mê. Loại thuyền có vỏ bằng tre đan này nhẹ hơn loại gỗ, dễ thấm dầu chai, chịu đựợc sóng cồn, sức dội khi ủi băi và không bị mọt ăn. Hơn nữa tre rất dễ t́m và rẻ hơn loại gỗ tốt, c̣n đáy tre đan lại dễ thay, vừa nhanh lại vừa rẻ tiền. Đáy nan dùng được chừng 5 năm.Kiến-trúc đan bằng nan tre phổ-cập rất rộng răi với các cỡ ghe thuyền lớn nhỏ, nhiều kiểu như canoes, dinghies, thuyền thúng, thuyền buôn và thuyền đánh cá các loại."

            Jean Yves Claeys cho biết nhiều ghe thuyền ở vùng Nha-Trang có toàn thân làm bằng tre. Chỉ có phần trên làm bằng gỗ. Vỏ thuyền mê có thể bền bỉ tới 20 năm nếu được sử-dụng và bảo-tŕ đúng cách [174],

            Người Việt-Nam là dân-tộc độc-nhất đă phát-triển và hoàn-thiện đủ mọi loại ghe thuyền bằng tre này.[175]

H́nh 100. Thuyền làm bằng nan tre và gỗ. Loại này có lái và cây xiếm mũi (thường gọi là lui-hạ) điều-chỉnh được chiều sâu..

           

4.11 - Thuyền nhiều khoang kín nước

            Theo Malcolm F. Farmer, không những bè mảng là thứ "phương-tiện nổi" đầu tiên được trang-bị buồm; bè mảng c̣n là tiền thân của các loại ghe thuyền có nhiều khoang kín nước ngày nay.[176] Tất cả Tàu thuyền hiện-đại đều kiến trúc thành nhiều ngăn. Người Tàu đă cố-ư "nhận vơ" nhưng người Việt chúng ta mới thực-sự đúng là tác giả của phát-minh quan-trọng này. Lư-lẽ kể ra như sau:

- Bè tre tự nó, theo kiến-trúc là một loại phương-tiện nổi gồm nhiều ngăn kín nước là những lóng tre. Người Việt là giống dân độc-nhất sử-dụng đủ các loại tre, bương trong mọi kiến-trúc ghe thuyền.  

- Bè là phương-tiện nổi đầu tiên xuất-hiện ở người Đông-Nam-Á. Người tiền-sử rất có thể đă dùng nó để vượt biển sang Úc-Châu từ 40,000- 50,000 năm trước. Người Việt phát-triển những kiểu bè mà kỹ-thuật tân-tiến nhất với nhiều buồm, nhiều xiếm và có khả-năng tự-động giữ hướng đi. 

- Khoa khảo-cổ cho biết những thuyền có khoang kín đầu tiên t́m thấy tại Hoa-Nam, nơi người Việt cư-ngụ lúc xưa. Người Việt có loại thuyền rất cổ là Thuyền Ô v́ kiến tạo bằng nhiều ô (khoang) kín nước.

- Người Việt-Nam khởi-sự việc đánh cá trước cả thời Băng Đá; trong khi người Trung-Hoa c̣n sinh-sống trong nội-địa. Ngư-phủ Việt-Nam thích bán cá tươi nên từ lâu hô chứa cá sống trong ngăn đựng nước, có lỗ thông ra ngoài. Đó là một loại khoang kín nước vậy.

- Thuyền của Việt-Nam không những đă được kiến trúc nhiều ngăn, người Việt c̣n thấu-triệt nguyên-lư cân-bằng Tàu thuyền. Chúng ta đựng các chất lỏng trong b́nh, chai, lọ tĩnh trước khi xếp vào khoang thuyền; chúng ta đă nắm được một kỹ-thuật c̣n cao hơn cả ngăn kín nước nữa.   

 

4.12 - Cây Xiếm, Phát-minh Đảo lộn hàng-hải.

            Sau khi người Bắc-Phi và Âu-Châu biết sử-dụng buồm tứ-giác, họ nhờ gió đẩy thuyền đi, nhưng cánh buồm thường thường trở thành vô-dụng v́ không mấy khi thuyền hoàn toàn thuận gió xuôi. Người Địa-trung-hải v́ đó, phát-triển tối-đa năng-lực chèo thuyền của những kẻ nô-lệ, có thuyền trang-bị tới 5, 6 hàng chèo và hàng trăm chiếc giầm. Cuộc đời người chèo thuyền thật nặng nhọc, quá khốn khổ và rất ngắn ngủi. Họ phải làm việc dưới roi vọt, miệng bị nút chặt, chân khoá trong xiềng-xích, thiếu thốn thực-phẩm; ít người sống quá 3 năm và khi kiệt lực rồi, chủ quăng xác xuống biển.

            Cho đến thế-kỷ thứ 15, dù đă có nhiều cải-tiến trong kỹ-thuật kiến-trúc, ngoài khả-năng thông thường chạy xuôi gió, Tàu thuyền Âu-Châu cũng chỉ có thể lợi-dụng gió ngang và đành bỏ cuộc khi gió mạnh thổi ngược chiều.

            Cùng trong sưu-tập "Man Across the Ocean" dẫn-chứng ở đoạn trên, Stephen C. Jett cho rằng: "các ghe Á-Đông, nếu nói đến vận-tốc chạy biển, vượt xa chiếc thuyền chạy nhanh nhất trên thế-giới mà c̣n đi ngược lại được gần với hướng gió hơn bất cứ một chiếc thuyền buồm nào khác". Ngoài hệ-thống buồm hữu-hiệu, cây xiếm đă góp công không nhỏ trong những thành-tích làm tăng-tiến khả-năng hải-hành.

            Trở lại với các h́nh thuyền trên trống đồng Đông-Sơn, ta thấy tiền-thân của những cây xiếm cũng đă xuất-hiện. V́ trên những thuyền này không có người chèo, nên ta cũng có thể hiểu được là thuyền chạy bằng buồm. Ngoài mái chèo lái ở đuôi và mũi, cả đuôi thuyền lẫn mũi thuyền đều có những bộ-phận đưa ra như mảnh ván nhằm chống với sức giạt. Tổng-hợp tác-dụng của nước trên các trang cụ này đủ để giúp cho thuyền giữ một hướng cố-định, nhờ đó thuyền có thể chạy thẳng về phía trước. H́nh-ảnh này không khác mấy với h́nh-ảnh những loại trang-cụ trên bè mảng hay thuyền buồm ngày nay: Bè ở Bắc và TrungViệt-Nam có tới 3 hay 4 cây xiếm, c̣n loại thuyền buồm tiêu-biểu ngày nay ở Trung-phần Việt-Nam có bánh lái cùng cây xiếm h́nh đoản-đao (dagger-board) đặt trong hai lỗ khoét ra ở cả mũi lẫn lái. Loại xiếm ấy không choán chỗ và tỏ ra rất hữu-hiệu trong việc vận-chuyển. Cũng như bánh lái, tầm sâu của xiếm có thể điều-chỉnh được dễ dàng[177] nên thuyền có thể đi vào những nơi nông cạn.

            Giả-thuyết về nguồn gốc cây xiếm này không trái ngược với giả-thuyết nguồn gốc bánh lái được nêu ở một đoạn trên, nó phát-biểu thêm rằng cả bánh lái và cây xiếm đều có thể đă được dân Việt phát-minh nhiều thế-kỷ trước công-nguyên. Cho đến nay, những nét khắc ch́m trên trống đồng Đông-Sơn vẫn là chứng-tích cổ nhất và hiển-nhiên nhất về sự phát-minh lái và xiếm.

            Những cây xiếm h́nh-dáng tương-tự, kể cả thứ xiếm như cây đoản-đao (dagger boards), cũng t́m thấy ở Mỹ-Châu. Các nhà khảo-cổ tin rằng đă có thời chúng được coi như vật thiêng-liêng, làm đồ thờ cúng trong những đền đài.

Cả một hệ-thống xiếm và buồm phức-tạp do thổ-dân Nam-Mỹ sử-dụng trên các bè Balsa trước thời Columbus làm nhiều khoa-học-gia kinh-ngạc và đồng-ư là đă có sự liên-hệ Á-Mỹ trong cổ-